27 C
hanoi
Thứ Năm, Tháng Tư 22, 2021

Tranh Đá Quý (Gemstone Picture) là loại tranh được chế tác từ đá quý như Ruby, Saphire, Peridot, Opal, Zicon, Berin, Thạch Anh, Thiên Thạch, Tourmaline… Xuất hiện ở Việt Nam từ khoảng năm 2000, Tranh Đá Quý được xem là thú chơi xa xỉ, chỉ giành cho người giàu và người… già. Phải đến khi loại sản phẩm nghệ thuật đặc biệt được sử dụng để chế tác chân dung các nguyên thủ Quốc gia tham dự APEC Vietnam 2006, thì Tranh Đá Quý mới bắt đầu được quan tâm và tìm hiểu.

Được chế tác hoàn toàn từ đá quý, nên Tranh Đá Quý có màu sắc trung thực và thể hiện nội dung gần như nguyên bản. Thậm chí nét độc đáo chính là sự óng ánh rực rỡ của đá quý giúp bức tranh thêm sống động, mang đậm hơi thở của thiên nhiên. Bên cạnh đó, hầu hết các loại tranh đá quý đều không sử dụng tấm kính bảo vệ, nên việc sờ trực tiếp vào lớp đá quý trên bức tranh cũng khiến cho người xem thích thú và có cảm giác chân thật.

Trải qua hàng triệu năm hấp thu tinh hoa của đất trời và thời gian mới tạo thành được những viên đá quý nhỏ xíu, nên Tranh Đá Quý còn mang nhiều yếu tố về đẳng cấp, phong thủy và có hơi hướng tâm linh. Bởi vậy, để đánh giá đúng giá trị của một bức tranh đá quý đòi hỏi phải am hiểu và có kiến thức trong lĩnh vực này.

Xét về độ bền, Tranh Đá Quý gần như là vĩnh cửu. Người ta có thể rửa tranh bằng nước xà phòng mà không làm ảnh hưởng đến màu sắc và chất lượng tranh. Bên cạnh đó, vấn đề bảo quản cũng khá đơn giản, khi nhìn các bức tranh rất dày dặn và cứng cáp.

Trước đây, Tranh Đá Quý có nội dung truyền thống chủ yếu được sử dụng cho mục đích trang trí nhà cửa và làm quà tặng giá trị. Tuy nhiên thời gan gần đây, Tranh Đá Quý ngày càng “cá nhân hóa”, bằng cách chế tác nội dung theo yêu cầu như khung cảnh công ty, chân dung, logo hay thư pháp…

Điểm yếu của Tranh Đá Quý là mất thời gian chế tác, trọng lượng nặng và chỉ được phổ biến trong một tầng lớp thượng lưu nhất định.

ĐẶC TÍNH CỦA TRANH ĐÁ QUÝ

ĐẸP:

Tranh Đá Quý rất đẹp! Đó là ấn tượng đầu tiên. Được chế tác hoàn toàn từ đá quý, nên Tranh Đá Quý có màu sắc trung thực và thể hiện nội dung gần như nguyên bản. Thậm chí nét độc đáo chính là sự óng ánh rực rỡ của đá quý giúp bức tranh thêm sống động, mang đậm hơi thở của thiên nhiên. Ngoài ra, các nghệ nhân có thể chế tác theo yêu cầu bất kì về nội dung hay kích thước, ngay cả những bức tranh sử dụng đồ họa phức tạp.

Một điều đặc biệt là các bức Tranh Đá Quý thường có độ dày và thể hiện 3D nhất định. Thông thường các khối hoặc các hạt đá quý được gắn nổi khoảng 1cm, cá biệt nhiều chi tiết có độ nổi lên đến 5cm như bức “Việt Nam – Giang Sơn Cẩm Tú”. Vì vậy, việc sờ trực tiếp vào lớp đá quý trên bức tranh cũng khiến cho người xem thích thú và có cảm giác chân thật.

SANG TRỌNG VÀ ĐỘC NHẤT

Phàm trên đời không có gì quý giá bằng đá quý, ngay cả vàng hoặc nguyên tố hạt nhân. Trải qua hàng triệu năm, dưới các điều kiện cực kì khắc nghiệt và hi hữu, mới tạo thành được 1 viên đá quý nhỏ xíu. Từ đông sang tây, tự cổ chí kim, đá quý luôn luôn là biểu tượng của vẻ đẹp hoàn mĩ. Thừa hưởng những điều đó, Tranh Đá Quý cũng là biểu tượng của dòng mĩ thuật tinh tế, sang trọng và vương giả.

Do những bức Tranh Đá Quý được chế tác hoàn toàn bằng thủ công, nên cả một triệu bức thì cũng không có bức nào giống bức nào. Ngay cả khi chính một người nghệ nhân chế tác cùng một loại tác phẩm, thì chúng cũng có sự khác biệt đôi chút.

PHONG THỦY VÀ CHỮA BỆNH:

Đá quý là loại vật liệu có tính chất phong thủy lớn nhất trong tự nhiên. Từ ngàn xưa, các vị vua chúa thường dùng đá quý để trấn giữ những điểm phong thủy trong cung điện. Ngoài ra, trong nhiều nền văn hóa, người ta nghiên cứu rằng một số loại ngọc có khả năng chữa các bệnh nhất định. Đó chính là nền tảng của ngành thạch liệu học trong khoa học hiện đại.

ĐỘ BỀN:

Nếu như các dòng tranh khác thường được bảo vệ bởi 1 tấm kính, thì tranh đá quý lại không cần điều đó. Ngoài ra, Tranh Đá Quý cũng không sợ nhiệt độ, ánh sáng trực tiếp hay bụi bẩn. Người ta vẫn chà rửa tranh bằng nước xà phòng mà không làm ảnh hưởng đến màu sắc và chất lượng tranh.

TÌM HIỂU VỀ ĐÁ QUÝ

Triết gia La Mã cổ đại Pliny the Elder, khi trông thấy một viên đá quý trên vương miện Hoàng Đế La Mã đã thốt lên: “Đây! Toàn bộ sự uy nghi của tạo hóa đều chứa đựng trong không gian nhỏ bé này, bộc lộ sự sáng tạo ưu tú”. Đại ý nói chỉ một hạt đá quý nhỏ bé cũng đủ thể hiện cái đẹp của vạn vật trong trời đất. Bài viết sau đây sẽ cung cấp cho quý vị những kiến thức tổng quan về đá quý. Do bài viết khá dài nên xin phép được chia thành 5 phần nhỏ.

I. TỔNG QUAN

Ngọc, hay đá quý và một số loại đá bán quý, là các khoáng chất quý hiếm xuất xứ từ thiên nhiên hoặc nhân tạo có giá trị thẩm mỹ; màu sắc rực rỡ và đồng đều, có độ tinh khiết và ổn định; khả năng chiết quang và phản quang mạnh; có độ cứng nhất định và phần lớn có khả năng chống ăn mòn. Ngọc có thể được ứng dụng trong nhiều ngành công nghiệp nhưng công dụng chủ yếu được biết đến nhiều nhất là để trang trí và làm các đồ trang sức, đặc biệt là nữ trang.

Tuy trong thực tế hầu như không có một phân biệt nào giữa hai khái niệm “ngọc” và “đá quý”. Người ta vẫn dùng tên gọi “ngọc” biểu hiện đặc tính của loại đá quý cụ thể (lục bảo ngọc, lam ngọc, hồng ngọc…); còn “đá quý” có ý nghĩa rộng hơn và khái quát hơn (nhẫn cưới gắn đá quý, tranh đá quý…)

  Tranh sơn mài

Đa số các loại ngọc có tính chất đặc biệt như độ cứng, khả năng tương tác với ánh sáng (chiết quang, phản quang); khả năng chống ăn mòn; tính chất cách điện hay bán dẫn… Các loại đá ngọc phân biệt với các khoáng thạch có màu sắc nhưng ít quý giá hơn (như đá cẩm thạch, đá hoa cương) ở phương diện chủ yếu là sự quý hiếm của nó và độ tinh khiết đồng đều một cách thuần nhất của màu sắc.

Khoáng vật của thế giới tự nhiên có khoảng hơn 3000 loại, tuy nhiên chỉ có khoảng 100 loại khoáng thạch thích hợp cho việc gia công thành đá quý. Với những nhà buôn đá quý chỉ có khoảng 20 loại là đối tượng kinh doanh, trong đó kim cương, ngọc lục bảo, hồng ngọc và saphire được đánh giá là 4 loại đá quý hàng đầu. Ngoài ra, người ta còn gọi kim cương, ngọc lục bảo, hồng ngọc, saphire, jadeite và ngọc trai là “ngũ hoàng nhất hậu” (năm vua và một hoàng hậu).

II. CÔNG DỤNG CỦA ĐÁ QUÝ

Từ xa xưa, ngọc và vàng gắn với biểu tượng quyền lực và sự giàu có của giới quý tộc khi được khảm trên vương miện, vương trượng, chuôi kiếm, yên ngựa và nữ trang của hoàng gia. Cho đến thời hiện đại cả ngọc và vàng đều có thể được sử dụng như tiền tệ (bản vị). Mấy năm trở lại đây giá vàng trên thế giới luôn biến động mạnh mẽ, có lúc giảm đáng kể, trong khi đó giá ngọc lại luôn luôn tăng lên. Có không ít nước còn xếp ngọc vào loại tiền cứng được bảo hộ chặt chẽ. Chẳng hạn Iran sở hữu kho báu hoàng gia (một trong số đó là chiếc vương miện với trên 3000 viên kim cương) đã làm nền tảng hậu thuẫn cho tiền tệ Iran từ 1979 cho đến ngày nay. Khoảng 50 năm trở lại đây, việc buôn bán các loại ngọc trang sức trên thế giới diễn ra rất sôi động. Năm 2011 kim ngạch mậu dịch của ngọc đã lên tới 296 tỷ USD. Vài năm gần đây tốc độ tăng giá của ngọc vào khoảng 12%/năm, và người ta thường nhắc đến một câu nói “vàng thì có giá còn ngọc lại vô giá”.

Mỗi loại đá quý có hình dáng và màu sắc riêng nên chúng có những truyền truyết tượng trưng tương ứng, có loại còn được coi là mốc sinh trưởng của tháng và mùa. Vì vậy, đối với con người thì sắc thái của ngọc không chỉ là hiện thân của giàu có mà còn biểu đạt khí chất. Tự cổ chí kim ở cả phương Đông và phương Tây, mọi người đều coi ngọc là tài phúc của tự nhiên, tượng trưng cho hòa bình, hữu nghị, may mắn, như ý, hạnh phúc, sức mạnh và quyền lực. Ngày nay, với màu sắc thần bí vốn có cộng thêm vẻ đẹp tự thân và giá trị kinh tế lớn, ngọc ngày càng có sức hấp dẫn không chỉ với thế giới quý tộc, người mẫu, những ngôi sao màn bạc và những nhà tạo mẫu mà cả đối với mọi người bình thường trên khắp các châu lục.

Một số loại với tính chất lý hóa đặc biệt có thể được ứng dụng trong khoa học kỹ thuật. Hồng ngọc và saphire thường được dùng trong kỹ thuật laser, làm chân kính của các dụng cụ cơ khí tinh vi, làm thấu kính đòi hỏi độ tinh khiết và bền. Kim cương được sử dụng nhiều trong cắt gọt, mài, giấy ráp đánh bóng và chỉ có kim cương mới cắt và đánh bóng được kim cương. Kim cương (ngoại trừ màu xanh) còn được ứng dụng chế tạo các điện trở, hoặc chất bán dẫn cho các dụng cụ điện tử có khả năng chịu nhiệt và đòi hỏi độ bền cực cao.

Ngoài ra, trong nhiều nền văn hóa, người ta nghiên cứu rằng một số loại ngọc có khả năng tâm linh, tôn giáo và chữa các bệnh nhất định. Đó chính là nền tảng của ngành “Thạch Trị Học” trong khoa học hiện đại.

III. Ý NGHĨA CỦA CÁC LOẠI ĐÁ QUÝ

Dưới đây là danh sách một số loại ngọc và ý nghĩa tượng trưng của nó khi được sử dụng với tư cách một món đồ trang sức. Những ý nghĩa tượng trưng này có thể thay đổi không chỉ theo loại ngọc mà còn thay đổi theo màu sắc của ngọc, thậm chí thay đổi theo quan niệm và văn hóa của mỗi dân tộc:

– Kim cương: Sự tinh khiết, tình yêu vĩnh cửu, giàu sang và xa hoa, mạnh mẽ và kiên cường, sự tận tụy, tận tâm hết mình của con người.

– Ngọc lục bảo: Hạnh phúc, vận may, sự hồi sinh, sự hi vọng, tình yêu thương; trợ giúp trí nhớ và trí thông minh; tăng sự lương thiện và trung thực, phơi bày sự dối trá và phản bội.

– Hồng ngọc: Tri kỷ, tình yêu nồng thắm, hạnh phúc, biểu tượng của vẻ đẹp; bao bọc cho cơ thể người đeo nó một sức khỏe tốt, một trí tuệ thông sáng, minh mẫn với việc loại bỏ đi những suy nghĩ không tốt; sự khuyến khích, khích lệ động viên, cuộc sống, của nhiệt huyết, trái tim, và sức mạnh.

– Sapphire: Chân thành, khát vọng, thanh tao, hy vọng; sự từ tốn, điềm đạm, kiên trì; sự khai sáng cho tâm hồn con người và sự đổi mới từ bên trong.

– Ngọc mắt mèo: Cao quý, sức khoẻ, vận may.

– Alexandrite: Cao quý, trường thọ.

– Opal: Thiên sứ của vận may, yên vui, thuận hòa, bình an và sắc đẹp.

– Spinel: Tri kỷ và hạnh phúc.

– Aquamarine: Dũng cảm, hạnh phúc, sáng suốt, tuổi xuân vĩnh hằng, cảm giác bình yên, làm giảm sợ hãi, nỗi đau cũng như sự bất hạnh, sự tự bộc lộ những năng lực còn ấn giấu.

– Tourmaline: Vận may, bình yên, sắc màu tuổi trẻ.

– Olivine: Vợ chồng hạnh phúc trăm năm bên nhau; tình cảm nồng thắm, xanh mát, dịu dàng dễ chịu và hòa hợp; sự thành công, hòa bình và may mắn; sự quyến rũ tình yêu, sự điềm tĩnh và kiềm chế.

  Lịch sử các điệu nhảy cổ điển

– Zircon: Thắng lợi, vận may, sáng suốt.

– Topaz: Tương ngộ, hữu nghị, đàng hoàng; tình cảm mạnh mẽ, chính xác và hòa đồng, lịch sự và hào hiệp.

– Garnet: Chân thành, hữu ái, đẹp đẽ, sự thật hoàn hảo, chân lý, lẽ phải, niềm tin, sự tin tưởng, những lời hứa bảo đảm, sức mạnh và lòng trung thành tuyệt đối. Ngoài ra, còn là sự bền lòng, tính kiên trì, nhẫn nại.

– Thạch anh tím: Chân thành, hướng thiện, thanh tao, sung mãn, sự quý phái, dòng máu hoàng tộc, sự lãnh đạm điềm tĩnh, sự ổn định, bền vững, bình thản và lòng hiếu thảo, yêu thương.

– Đá mặt trăng: Sự sâu sắc, thông thái sáng suốt, khôn ngoan, uyên thâm trầm tĩnh, đẹp đẽ và sự toàn vẹn, bảo bối của vận may, thần thánh, phú quý và trường thọ.

– Ngọc trai: May mắn, cao quý, trường thọ.

– Cẩm thạch: Thắng lợi, vận may, hạnh phúc, thanh tao.

IV. THÁNG SINH VÀ KỶ NIỆM NGÀY CƯỚI THEO ĐÁ QUÝ

Thang sinh va ky niem ngay cuoi theo da quy 3.[1]

1. Tháng sinh của đá quý

Đối với một số nền văn hóa, mỗi loại ngọc có thể gắn với bản mệnh con người sinh trong những tháng nhất định:

Tháng 1: Garnet (ngọc hồng lựu)
Tháng 2: Amethyst (thạch anh tím)
Tháng 3: Aquamarine (ngọc berin)
Tháng 4: Diamond (kim cương)
Tháng 5: Emerald (ngọc lục bảo)
Tháng 6: Pearl (ngọc trai) hoặc Moonstone (đá Mặt Trăng)
Tháng 7: Ruby (hồng ngọc)
Tháng 8: Peridot (Olivin)
Tháng 9: Sapphire (ngọc xa-phia)
Tháng 10: Opal (ngọc mắt mèo)
Tháng 11: Topaz vàng nâu hay Citrin
Tháng 12: Turquoise hoặc topaz màu xanh lam (ngọc lam)

2. Kỷ niệm ngày cưới

Kỷ niệm ngày cưới, bên cạnh Đám cưới Giấy (1 năm), Đám cưới Gỗ (5 năm), Đám cưới Đồng (10 năm), Đám cưới Pha lê(15 năm); Đám cưới Sứ (20 năm); Đám cưới Bạc (25 năm) và Đám cưới Vàng (50 năm) là các trường hợp sử dụng ngọc:

30 năm: Đám cưới Ngọc trai
40 năm: Đám cưới Hồng ngọc
45 năm: Đám cưới Ngọc bích
55 năm: Đám cưới Ngọc lục bảo
60 năm: Đám cưới Kim cương

V. LỰA CHỌN VÀ BẢO QUẢN

1. Lựa chọn

Không chỉ kim cương, hầu hết các loại ngọc thường được lựa chọn dựa trên các tiêu chí về màu sắc (color), độ tinh khiết (clarity), kích thước (carat), kiểu dáng, cách cắt (cut) hay còn gọi là tiêu chuẩn 4C. Ngoài ra, đôi khi còn thấy có sự hiện diện của 6C với giá cả (cost) và giấy chứng nhận, kiểm định (certification).

Những tiêu chuẩn đó thường được cụ thể hóa thành:

– Về màu sắc, ngọc phải tươi sáng đồng đều, độ đậm nhạt phải tương ứng với nhau, đậm quá thì dễ chìm màu, nhạt quá thì lại không có sức hấp dẫn, hồng nên hồng màu huyết chim câu, xanh lam nên xanh như nền trời sau cơn mưa, kim cương phải trong suốt đến nỗi để ánh sáng lọt qua không có chút tạp sắc nào, ngọc Emerald và Jadeite phải có màu sắc rực rỡ.
Độ trong suốt tốt, phản quang mạnh, óng ánh, rất ít lỗi hoặc không có lỗi.

– Về kích thước, ngọc càng to càng tốt, nhất là những loại ngọc cao cấp. Giá của ngọc tăng theo cấp số nhân khi trọng lượng của chúng tăng theo cấp số cộng.

– Quý, hiếm, bền.

– Kiểu dáng thời thượng, công nghệ tinh xảo, các bề mặt cắt hoàn hảo.

2. Bảo quản ngọc

Vì đá ngọc có tính dầu không nên dùng nước để rửa, tránh việc dính chất dầu lên bề mặt của ngọc làm giảm độ sáng. Nếu ngọc bị bẩn, tốt nhất là dùng sóng siêu thanh để tẩy, dùng vải nhung, da hươu lau sạch hoặc dùng rượu thuần chất hoá học lau ướt đến khi ngọc sáng như cũ.

Đại đa số ngọc thiên nhiên có tính chất ổn định, không tan trong acid và kiềm, tuy nhiên cũng cần tránh tiếp xúc với hóa chất nhất là các loại mỹ phẩm.

Ngọc tuy bền nhưng không được tác động mạnh hoặc làm rơi, tránh bị nứt hoặc vỡ nứt. Không được để ngọc va chạm với vật cứng, tuyệt đối không phơi dưới ánh nắng mặt trời, khi không đeo nên cất trong hộp nữ trang có lót mềm.

Kim cương, hồng ngọc, lam ngọc có độ cứng rất cao, không được để cùng với các loại Ngọc khác, tránh làm sứt mẻ các loại ngọc khác.

Trân châu có độ cứng thấp, không chịu được ma sát, những chất cho thêm vào trân châu thường là cơ chất và Canxi-Cacbon, vì vậy không được cho tiếp xúc với bất kỳ chất chua nào như muối chua, Axit nitric và dấm, mồ hôi và các loại mỹ phẩm, tránh cho trân châu bị biến sắc hoặc mất đi độ cứng.

CÁC LOẠI ĐÁ TẠO NÊN MÀU SẮC TRONG TRANH ĐÁ QUÝ

Chúng ta đã biết Tranh Đá Quý được chế tác hoàn toàn từ đá quý. Khoáng vật của thế giới tự nhiên có khoảng 3000 loại, nhưng chỉ có khoảng 20 loại đá quý được dùng để chế tác tranh, trong đó có 2 loại đá rất đắt tiền là ruby và saphire. Bên cạnh đó, các nghệ nhân kinh nghiệm thường có kĩ thuật pha màu riêng biệt và đặc trưng riêng của từng phong cách…

Cụ thể các màu sắc trong Tranh Đá Quý được tạo thành từ các loại đá quý như sau:

Màu trắng: Canxit

Màu đỏ, hồng: Ruby

Màu xanh lá cây, xanh lông công: Opal xanh, đá Khổng Tước

Màu xanh nhạt của nước, bầu trời: Sapphire xanh, Opal xanh lơ

Màu đen xám của núi: Saphire xanh đen

Màu vàng, vàng rơm, vàng vỏ trứng: Opal vàng, Thạch Anh vàng

Màu đen: Tourmaline, Thiên Thạch

Màu tím: Thạch Anh tím

Các màu sắc còn lại được pha màu bằng các công thức đặc trưng hoặc tùy biến.

CÁCH THỨC CHẾ TÁC MỘT BỨC TRANH ĐÁ QUÝ

Để hoàn thành một bức tranh đá quý là cả một quá trình kì công qua nhiều công đoạn của đội ngũ những người sản xuất, bắt đầu từ việc thăm dò cho đến khâu bảo dưỡng. Bài viết sau đây, Ngọc Kim Long xin giới thiệu với các bạn những công đoạn chính của quá trình chế tác Tranh Đá Quý, sản phẩm được cho là kết tinh tất cả những tinh hoa của đất trời, tinh thần của thời gian cùng tài hoa và tâm huyết của con người. Điều thật sự đáng khâm phục, là ngoại trừ công đoạn thăm dò và khai thác, các công đoạn còn lại hoàn toàn đều được thực hiện thủ công.

  Cổ Cầm

THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC

Các công ty lớn thường sử dụng những máy móc hiện đại để tham dò và khai thác đá quý. Còn những công ty nhỏ hơn thì chủ yếu dựa vào độ nhạy cảm của công nhân để có thể khai thác đá quý một cách hiệu quả nhất.

Việt Nam là một trong những nước có nguồn tài nguyên đá quý phong phú nhất thế giới. Có nhiều người dân vùng đất đá quý cũng tham gia vào việc khai thác trên chính quê hương họ. Thông thường, loại đá trắng có rất nhiều trên núi, chỉ việc “đánh về”, kiếm cũng khá dễ vì có nhiều người lên núi khai thác rồi đưa về bán. Nhưng loại đá màu thì rất khó kiếm. Cứ sáng tinh mơ, hàng trăm người dân lại lên rừng, lang thang dọc suối, nhặt từng viên đá lộ thiên. Nhặt mãi, đá cũng khan hiếm, họ phải đi sâu vào trong những hang động, dùng đèn pin soi, rồi lượm nhặt. Tới thời điểm này, ngày càng khó kiếm hơn thì nhiều người đã đưa máy móc lên đào hầm hố sâu vào lòng núi, sau đó đưa đất đá lên đãi trong bồn gỗ. Nếu tìm được đá Sapphire, Ruby chính hiệu (to viên, trong suốt, màu chuẩn, không rạn) thì bán cho “bưởng” có thể được vài trăm triệu, nhưng chủ yếu, họ lại chỉ gặp đá màu trong đó có cả Ruby, Sapphire cấp thấp, bị vỡ rạn, nhỏ hạt. Và lượng đá này được dùng để làm tranh. Nhiều khi, để tìm được loại đá màu phù hợp (nhất là đá màu đen, đá xanh,…) cũng phải lang thang trên núi cả tháng trời.

CHUẨN BỊ NGUYÊN LIỆU

Sau khi khai thác, những viên đá sẽ được cắt, đẽo, gọt ra từng phần. Phần đẹp nhất sẽ được chế tác làm trang sức hoặc gia công làm vật liệu chế tạo thiết bị công nghệ cao. Những phần còn lại sẽ được xử lí để làm nguyên liệu chế tác Tranh Đá Quý. Những phần này lại được xử lí theo nhiều cách thức khác nhau.

– Cắt lát từng lát mỏng, to nhỏ khác nhau, thường dùng để tạo nên các chi tiết nguyên khối, như cánh hoa, lá cây, mái nhà…

– Những viên đá to bằng ngón tay út thì được dùng làm các khối đá tự nhiên trong bức tranh.

– Phần còn lại cho vào cối sắt, được những người rắn tay dùng chày sắt giã liên tục.

– Sàng lọc và phân loại đá: Đá thô sau khi được giã xong, được vét ra trải lên bàn, người thợ lại ngồi quanh, dùng kẹp gạn nhặt, phân loại từng loại đá màu với kích cỡ riêng. Phần còn lại được tiếp tục giã nát cho đến khi mịn như cát.

CHẾ TÁC TRANH

– Cắt mica: Người nghệ nhân sẽ cắt một tấm mica trong suốt để làm khung, có độ dày từ 3-6mm, thông thường sẽ lớn hơn kích thước thật của bức tranh một chút.

– Lót nền : Để có được bức tranh chắc chắn và đẹp, người nghệ nhân phải rắc một lớp đá trắng khoảng 1mm (bột cẩm thạch) khắp mặt nền của tranh để lấp chỗ trống, tạo độ cứng chắc, bền và sáng cho tranh.

– Vẽ mẫu: Trước khi rắc tranh, dựa vào bức tranh mẫu, người nghệ nhân sẽ vẽ trên nền đá cẩm thạch bức tranh cần chế tác bằng phấn màu hoặc bằng chì.

– Rắc đá và nhỏ keo: Dựa vào bức tranh mẫu, người nghệ nhân sẽ rắc đá và bột đá để tạo hình khối. Tùy chi tiết mà chọn màu thích hợp. Tùy độ đậm nhạt, hình khối mà rắc lượng đá màu, đá hạt hay đá bột, đá hạt to hay nhỏ, rắc thưa hay mau. Nếu không có màu sẵn thì phải phối hai ba màu kết hợp lại với nhau để tạo thành màu mới.

– Sơ sót hay bị lỗi: Thông thường thì keo sẽ khô trong vòng khoảng 15 giây. Nếu như sơ sót hay bị lỗi khi rắc đá hoặc nhỏ keo, thì công sức của người nghệ nhân coi như đổ sông đổ bể. Đó là chưa kể thiệt hại về phần nguyên liệu.

XỬ LÍ SAU CHẾ TÁC:

Sau khi người nghệ nhân hoàn thành chế tác bức tranh, sẽ phải chờ khoảng 2-3h để cho keo dính chắc chắn. Sau đó, người thợ kĩ thuật sẽ cắt tấm mica lại cho bằng kích thước thật. Tiếp theo là công đoạn chùi rửa và phủ lên bề mặt một lớp dầu bảo dưỡng.

* Do những bức Tranh Đá Quý được chế tác hoàn toàn bằng thủ công, nên cả một triệu bức thì cũng không có bức nào giống bức nào. Ngay cả khi chính một người nghệ nhân chế tác cùng một loại tác phẩm, thì chúng cũng có sự khác biệt đôi chút.

Với những công đoạn phức tạp và tỉ mỉ như vậy, thông thường một nghệ nhân lành nghề phải mất khoảng 3 ngày để chế tác một bức tranh có kích thước 40x60cm. Nếu những tác phẩm phức tạp, có thể mất nhiều thời gian hơn.

CÁCH THỨC BẢO QUẢN VÀ BẢO HÀNH TRANH ĐÁ QUÝ

Tranh Đá Quý có độ bền rất tốt. Nếu được bảo quản hợp lý, có thể gìn giữ hàng trăm, thậm chí hàng ngàn năm. Nhờ vậy, từ trước đến nay, công ty Ngọc Kim Long chưa phải bảo hành bức tranh nào.

– Tranh Đá Quý thường không dùng kính bảo vệ, nên có khả năng dính bụi bẩn. Thông thường khoảng 2 năm, Quý Khách nên tháo bức tranh ra để làm vệ sinh. Có thể sử dụng nước xà phòng, dùng bàn chải mềm để chải tranh. Sau đó phơi khô rồi lắp lại vào khung.

– Tranh Đá Quý có thể chịu được nắng mưa, độ nóng lạnh của thời tiết. Tuy nhiên cũng không nên quá lạm dụng điều này.

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC

CÓ THỂ BẠN THÍCH XEM

VĂN HÓA VIỆT NAM

TIN MỚI NHẤT

Món ngon từ Giá bể (hay còn gọi là giá biển)

Tuy có vẻ ngoài kém hấp dẫn nhưng giá bể lại là nguyên liệu làm nên nhiều món ăn ngon của vùng biển Hải Phòng.
Hải Phòng không chỉ nổi tiếng với nhiều địa điểm du lịch hấp dẫn mà còn gây ấn tượng với du khách bởi nền ẩm thực đa dạng, hấp dẫn.

Ngoài những đặc sản mang đậm nét văn hóa như bánh đa cua, nem cua bể,… còn có một món ngon nức tiếng khác gắn bó với bao thế hệ người dân đất Cảng không thể không nhắc đến. Đó chính là giá bể.

Giá bể (hay còn gọi là giá biển) là loài nhuyễn thể có lớp vỏ màu xanh, thoạt nhìn khá giống con trai. Phần thịt mềm và ngọt. Chúng sống sâu dưới lớp cát biển nên có phần chân dài, lộ ra ngoài để dễ dàng tìm kiếm thức ăn.

Theo người dân địa phương, giá bể có thể thu hoạch quanh năm nhưng rộ lên nhiều từ khoảng tháng 6 đến tháng 8. Loài hải sản này thường sống vùi mình dưới lớp cát biển và được tìm thấy nhiều ở vùng biển Đồ Sơn, Cát Bà và Cát Hải.

Từ lâu, giá bể đã trở thành nguyên liệu chế biến nên nhiều món ngon, gắn bó với biết bao thế hệ người dân đất Cảng. Mỗi kg giá bể có giá khoảng 150.000 đồng.

Để món ăn thêm chất lượng, người ta phải lựa những con giá bể còn tươi và to đều. Vì giá bể sống trong cát nên quá trình sơ chế khá kỳ công.

  Tranh cát

Người ta phải ngâm giá bể trong nước ít nhất 6 tiếng để chúng nhả hết các phần cặn bã bên trong cơ thể ra ngoài. Sau đó xả sạch lại với nước là có thể đem chế biến thức ăn.

Giá biển là nguyên liệu làm nên nhiều món ăn nhưng ngon và nổi tiếng nhất vẫn là giá bể xào. Khi chế biến, phần vỏ vẫn được giữ nguyên nên món ăn này được cho là trọn vẹn hương vị nhất.

Sau khi sơ chế sạch, phần thân và chân giá bể được tách rời rồi đem phi thơm với hành tỏi, bột nghệ, giấm cùng các gia vị.

Để tạo độ sệt cho món ăn, người ta cho thêm bột dong hay bột mì/bột năng pha loãng. Món giá bể xào sau khi nấu chín có màu vàng đặc trưng của nghệ, ăn cùng nước sốt thơm ngon, sánh mịn.

Giá bể xào ngon nhất khi ăn nóng nên được ưa chuộng nhất vào mùa đông. Tuy nhiên, với những ai lần đầu thưởng thức có thể sẽ cảm thấy đây là món khá khó ăn.

Ngoài phần chân đã được tách rời có vị giòn, dai sần sật, thơm vị chua chua cay cay khá hấp dẫn, thực khách muốn ăn phần thịt giá bể thì phải bóc lớp vỏ của chúng và thưởng thức từ từ từng con.

Bởi thế mà giá bể xào được nhận xét là món ăn có khả năng rèn tính kiên nhẫn.

  Michelangelo: Từ họa sĩ bị "bỉ bôi" tới đỉnh cao hội họa Phục hưng

Vị ngọt, thơm của thịt giá bể hòa quyện cùng nước sốt sánh mịn, đủ chua cay mặn ngọt khiến thực khách ăn một lần nhớ mãi. Bạn cũng có thể ăn kèm bánh mì chấm với phần nước sốt dậy mùi thơm và đậm đà hương vị.

Gỏi giá bể cũng là món ăn “được lòng” nhiều thực khách nhất. Tuy nhiên món này được chế biến có phần kỳ công hơn giá bể xào.

Sau khi sơ chế, giá bể được hấp chín để giữ độ ngọt rồi tách vỏ, gỡ lấy thịt. Phần chân giá được chần qua nước sôi. Người ta trộn đều giá bể với riềng giã nhuyễn, thính gạo, đậu phộng, mè và lá chanh thái nhỏ. Gỏi giá bể thường được cuốn với bánh tráng, ăn kèm với rau thơm, dứa, khế, chuối xanh.

Ngoài phần thịt mềm và ngọt, linh hồn của món gỏi giá bể còn nằm ở bát nước chấm chua ngọt thơm mùi tỏi, ớt, có vị thanh thanh càng làm tôn lên hương vị hấp dẫn của món ăn.

Cuộn một miếng gỏi, quệt với nước chấm, thực khách sẽ cảm nhận được độ dai giòn sần sật lạ miệng của giá bể và vị chua nhẹ của khế, đắng chát của chuối xanh, hăng hăng của rau sống thấm đượm cả vị chua cay mặn ngọt của nước chấm.

Đến Hải Phòng, thực khách có thể dễ dàng tìm kiếm và thưởng thức món ngon từ giá bể tại các khu chợ đông đúc hay ở các quán ăn vỉa hè, ven đường. Mỗi suất giá bể xào và gỏi giá bể có giá dao động từ 30.000 – 50.000 đồng.

  Lịch sử các điệu nhảy hiện đại

Thảo Trinh

5 loại cây được người giàu chọn trồng phía trước cửa để ‘thu hút tài lộc’

*Thông tin mang tính chất tham khảo*

Cây cau

Cây cau theo quan niệm dân gian là loại cây có nguồn năng lượng dương, giúp ngăn chặn và làm giảm nguồn năng lượng âm – vốn không có lợi cho sức khỏe con người cũng như khí vận của gia chủ. Dương thinh âm suy sẽ mang đến nhiều năng lượng tích cực, niềm vui và may mắn đến cho gia chủ. Ngoài ra, cây cau là loài thân thẳng, sẽ không cản ánh nắng, gió mát vào nhà.


Cây tre, cây trúc

Đây là loài cây biểu trưng cho sự đoàn kết, bền vững, trường tồn với thời gian. Ngoài mang ý nghĩa vươn lên dù cuộc sống khắc nghiệt, cây này còn mang ý nghĩa đem đến sức mạnh cho gia chủ trong đường công danh sự nghiệp đồng thời nó ngăn vận xui không cho vào nhà.

Cây dừa cảnh

Cây dừa cảnh ngày càng được nhiều gia chủ chọn lựa vì muốn thanh lọc không khí giúp bảo vệ sức khỏe cho gia chủ. Dừa cảnh còn đại diện cho sự sung túc, may mắn và những điềm lành trong đường con cháu, công danh sự nghiệp.

Cây bưởi

Bưởi là 1 loại cây không còn quá xa lạ với người Việt, tuy nhiên ít ai biết rằng bưởi lại là loài cây được các đại gia ưa thích. Theo quan niệm, trước cửa nhà mà trồng 1 cây bưởi thì thần Tài sẽ thường xuyên ghé đến và mang tiền tài đổ đầy nhà. Bên cạnh đó, mùi thơm của hương bưởi cũng khiến gia chủ cảm thấy thoải mái mỗi khi về nhà.

  Michelangelo: Từ họa sĩ bị "bỉ bôi" tới đỉnh cao hội họa Phục hưng


Cây tùng

Cây tùng khi đặt trước cửa nhà không chỉ giúp toàn thể vẻ ngoài của ngôi nhà nhìn sang, đẹp và cao cấp hơn mà nó còn giúp thanh lọc không khí thêm phần mát mẻ. Đây là loại cây được trồng nhiều với mục đích cầu mong sức khỏe dồi dào cho gia chủ và các thành viên trong gia đình. Theo phong thủy thì hướng tốt nhất để trông cây tùng chính là hướng Nam.

Nguồn tham khảo: phunutoday

Máy bay điện Cruise

Công ty Mỹ phát triển mẫu máy bay điện có tốc độ 320 km/h với phạm vi bay dài, lên tới 480 km, nhờ cách tiết kiệm năng lượng mới.

Vấn đề lớn nhất đối với máy bay điện Cất hạ cánh thẳng đứng (VTOL) chính là hệ thống VTOL. Dù mang lại rất nhiều lợi ích, VTOL lại tiêu tốn mức năng lượng khổng lồ và đòi hỏi viên pin lớn. Khi chuyển sang bay ngang, các cánh quạt vốn sắp xếp theo chiều dọc cũng tạo thêm lực cản, làm hạn chế quãng đường bay được và vận tốc tối đa.

Công ty Mỹ Talyn Air phát triển mẫu máy bay điện mới mang tên Cruise có thể khắc phục vấn đề về năng lượng, New Atlas hôm 21/3 đưa tin. Cruise hoạt động nhờ Lift – hệ thống VTOL tách rời.

Lift có 8 cánh quạt lớn xếp thành 4 cặp đồng trục. Nó sẽ ghép nối với nóc của Cruise để giúp máy bay này cất cánh thẳng đứng. Sau khi Cruise đạt độ cao và vận tốc cần thiết, Lift sẽ tách ra để máy bay tự bay tiếp. Lift sẽ trở về trạm và sạc pin, bù lại phần năng lượng khổng lồ vừa tiêu thụ.

Máy bay Cruise và hệ thống Lift ghép nối trên không trung. Ảnh: Talyn Air.

Trong khi đó, Cruise có thể tiếp tục chở 5 hành khách đến đích. Máy bay này có phạm vi di chuyển lên tới hơn 480 km, dài hơn nhiều mẫu máy bay điện cất hạ cánh thẳng đứng khác. Tốc độ tối đa của nó là khoảng 320 km/h.

  Tranh cát

Khi hạ cánh, Cruise có thể tiếp đất giống loại máy bay cánh cố định. Còn nếu muốn đáp xuống một sân bay trực thăng, nó sẽ cần ghép nối với một hệ thống Lift khác. Để đuổi theo và ghép nối với máy bay Cruise trên không, phương tiện Lift cũng được trang bị cánh giống tàu lượn và một cặp động cơ đẩy giúp tăng tốc.

Tuy nhiên, mẫu máy bay tách rời hệ thống VTOL này cũng gặp nhiều thách thức, trước hết là công đoạn ghép nối. Mối liên kết giữa hai phương tiện cần đơn giản để ghép nối giữa không trung, đồng thời đủ mạnh để nâng một máy bay chở 5 người lên khỏi mặt đất. Việc chuyển đổi giữa quá trình bay lên thẳng và bay ngang cũng sẽ rất phức tạp.

Thu Thảo (Theo New Atlas)

Ý nghĩa thông số kỹ thuật của Camera giám sát

Camera quan sát, camera an ninh, camera chống trộm… nói chung là thiết bị dùng ghi lại hình ảnh trong phạm vi hoạt động của nó rồi lưu trữ vào hệ thống dữ liệu có thể là đầu ghi, có thể là lưu trên điện toán đám mây hoặc truyền tải hình ảnh trực tiếp đến điện thoại, máy tính của người dùng. Nói về camera quan sát thì có rất nhiều bộ phận vì vậy để hiểu và nắm được sự khác nhau chúng ta phải tìm hiểu một sô thông số kỹ thuật cơ bản sau:

Ý nghĩa các thông số kỹ thuật của Camera quan sát:

–  Auto white balance: Tự động cân bằng ánh sáng trắng đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho camera cân bằng ánh sáng lấy nét và cho hình ảnh rõ nét hơn.

–  Auto Gaint Control (AGC): Chức năng có tác dụng tăng tín hiệu hình ảnh, tăng độ nhạy của cảm biến khi camera đặt trong điều kiện ánh sáng yếu.

–  Backlight Light Compensation (BLC): Bù ánh sáng ngược với kĩ thuật này thì việc lắp đặt ở những nơi thiếu ánh sáng sẽ giúp cho việc hình ảnh của camera quan sát sẽ không bị nhiễu và mờ.

–  Wide Dynamic Range (WDR): Chức năng này làm sáng vùng tối và làm tối vùng sáng điều chỉnh sao cho hình ảnh hiện lên hài hòa.

Tính năng Wide Dynamic Range (WDR)

–  3D – DNR giảm nhiễu kỹ thuật số:

  • Cải thiện tối đa hình ảnh, hộ trợ cho việc nhận diện.
  • Việc chống nhiễu làm giảm giảm kích thước File giúp giảm dung lượng lưu trữ và băng thông
  • Giảm thiểu báo động sai do phát hiện chuyển động
  Các loại nhạc cụ

3D – DNR

–  Auto electrolic Shutter: Tự động chống sốc điện là một trong những yếu tố giúp cho camera hoạt động ổn định và bền bỉ hơn, thường là những nơi hay mất điện đột ngột và điện áp yếu, những chiếc camera không có chỉ số này rất dễ bị cháy hỏng do điện áp chập chờn.

–  Visible Distance: Khoảng cách quan sát của camera, giúp người dùng chọn lựa sao cho phù hợp với khoảng cách mà mình cần quan sát.

–  Water resistance/ water proof: đây là chỉ số chống chịu nước, với những môi trường đặc biệt như trong nước hay ngoài trời nơi chịu nhiều ảnh hưởng của mưa gió thời tiết, với những chiếc camera lắp đặt ngoài trời nên có chỉ số này sẽ giúp chúng bền bỉ hơn.

–  Auto IRIS: tự động hiệu chỉnh ánh sáng cũng giống như cần bằng ánh sáng giúp lấy hình ảnh rõ ràng hơn.

–  Horizontal TV lines: độ phân giải 320-540 TV lines, số càng lớn thì hình cảnh càng chất lượng, đây là một yếu tố quan trọng nhất để đánh giá về chất lượng hình ảnh của camera.

–  Image sensor: cảm biến hình ( thường có 2 kích thước 1/3” và 1/4 “, kích thước cảm biến hình càng lớn thì cho chất lượng ảnh tốt)

–  Minimum Illumination: cường độ ánh sáng nhỏ nhất ( tính bằng LUX)

Thông số này nói lên rằng, Camera chỉ có thể hoạt động ở cường độ ánh sáng lớn hơn cường độ ánh sáng nhỏ nhất. Trong điều kiện quá tối, nếu không phải là Camera có chức năng hồng ngoại thì sẽ không hoạt động được.

  Ông tổ nghề kim hoàn

Ánh nắng mặt trời: 4000 lux

Mây: 1000lux

Ánh sáng đèn tuýp: 500 lux,

Bầu trời có mây: 300lux

Ánh sáng đèn tuýp đỏ 500 lux, trắng (300 lux) trắng sáng 1lux

Đêm không trăng 0.0001 Lux

Xin chú ý đến loại Camera có chức năng Auto Iris (Tự động hiệu chỉnh ánh sáng). Đặc điểm của Camera loại này là chỉ với 1 nguồn sáng nhỏ, nó có thể tự động khuyếch đại nguồn sáng đó lên để có thể quan sát được.

–  Power Supply: Nguồn cung cấp

–  Vandal Proof: chống va đập

–  IR effective Sistance: khoảng cách hoạt động của tia hồng ngoại, để chúng ta biết được khoảng quan sát của camera vào ban đêm.

–  IR (Infrared rays): tia hồng ngoại giúp nhìn rõ vật thể kể cả ban đêm trong điều kiện không có ánh sáng.

–  Ir Led: số lượng đèn hồng ngoại, càng lớn thì hình ảnh ban đêm càng rõ ràng,

–  CCDTotalpixels: số điểm ảnh ( số điểm ảnh lớn -> hình ảnh sắc nét, nhưng sẽ tốn nhiều bộ nhớ do dung lượng ảnh lớn, ảnh hưởng nhiều đến tốc độ đường truyền)

–  Pan/Tilt/Zoom: chức năng quay trái phải/ trên dưới/ phóng to/thu nhỏ.

–  Indoor/outdoor: camera đặt trong nhà hay ngoài trời.

–  Tiêu cự ống kính tương đương góc mở ( quan sát):

2.1mm – 138 độ

2.5mm – 100 độ

2.8mm – 85 độ

3.6mm – 79 độ

4mm – 61 độ

6mm – 46 độ

  Lịch sử các điệu nhảy cổ điển

8mm – 34 độ

12mm – 22 độ

Đó là những thông số kỹ thuật giúp cho người sử dụng có thể chủ động lựa chọn, so sánh để  loại camera quan sát phù hợp với mục đích sử dụng của mình, hoặc nếu quí khách không nắm rõ các thông thông số để lựa chọn, hãy liên hệ với chúng tôi, chỉ cần quí khách đưa ra nhu cầu và mục đích sử dụng chúng tôi sẽ tư vấn tận tình giúp quí khách chọn lựa được chủng loại Camera phù hợp nhất, kinh tế nhất.

Quán bánh mì không tên hơn 40 tuổi ở Hà Nội

Chỉ với một kiểu bánh mì nhân truyền thống, quán giữ chân thực khách không chỉ bằng vị mà còn sự tận tình của chủ quán.

Theo chủ quán, cụ Phượng là người đầu tiên mở hàng bánh mì từ năm 1979. Hiện chị Linh – con dâu thay cụ tiếp quản.

“Quán được mẹ chồng tôi gây dựng, bà đã rất tâm huyết với nghề. Sau khi bà mất, tôi cố gắng nối nghiệp để gìn giữ thương hiệu gia đình”, chị Linh chia sẻ.

Bánh mì 10.000 đồng

Nằm ở ngã ba Hàng Gai giao với Tô Tịch, quán nép mình trong căn nhà cổ, giữa dãy phố nhộn nhịp. Địa chỉ này tận dụng vỉa hè trước nhà làm nơi phục vụ khách ăn tại chỗ, vỏn vẹn 4-5 chiếc ghế nhựa.

Suốt nhiều năm qua, quán chỉ bán bánh mì với nhân pate, ruốc, xúc xích đỏ, thịt xá xíu, và bơ. Mỗi chiếc thập cẩm chỉ 10.000 đồng.

Bí quyết níu chân thực khách là pate và xúc xích đỏ. Ở đây, pate chỉ sử dụng mỡ phần, thịt ba chỉ, gan lợn, hành phi thái nhỏ đã được rang với mỡ gà, khiến vị lạ và béo ngậy hơn. Xúc xích đỏ được làm từ bì lợn và tạo màu bằng hoa hiên.

Tương ớt của quán cũng là loại đặc biệt được làm theo công thức gia truyền. Bánh mì được lựa chọn từ mối quen phải làm riêng theo yêu cầu của quán.

Trải qua 40 năm, bánh mì Hàng Gai vẫn làm theo công thức gia truyền, không thay đổi, thêm bớt gia vị.

  Lịch sử các điệu nhảy hiện đại

Mở cửa từ sáng sớm nên từ 3h, chị Linh đã dậy để chuẩn bị nguyên liệu. Pate và xúc xích đỏ được làm từ tối hôm trước.

Khoảng 6h30, khách ghé quán đã vây kín xung quanh. Nhiều phương tiện nối đuôi nhau, kiên nhẫn chờ đợi tới lượt mình.

Đa số trong đó là khách ruột, đã ăn lâu năm. Chị Linh thường gọi những vị khách lớn tuổi là “u”, “bố”. Nhiều khách đến quán không cần gọi món, chị đã thuộc luôn sở thích của họ.

Chị Huyền (33 tuổi, Hàng Hòm) là khách thân thiết của quán bánh mì Hàng Gai từ thời đi học, tính đến nay đã hơn 20 năm. Thứ “giữ chân” chị ở quán là pate và xúc xích đỏ.

“Đến đây, mình thường ăn bánh mì pate, xúc xích. Bánh mì của quán vẫn giữ được hương vị truyền thống. Mình không thích các loại bánh mì hiện đại có nhiều sốt hay các loại nhân khác”, chị Huyền chia sẻ với Zing.

Vỏ bánh mì giòn, thơm. Pate thơm ngậy mùi hành phi đặc biệt. Xúc xích đỏ khá dai. Dù bánh mì luôn được nướng bằng lò nhưng chỉ đủ làm nóng vỏ ngoài, phần nhân bên trong tương đối nguội.

Đặc biệt, ở đây, bánh mì không có rau thơm ăn kèm nên khá khô và nhanh ngán. Nếu là người quen ăn đậm, bạn sẽ thấy phần nhân bánh tương đối nhạt. Tuy nhiên, chủ quán có chuẩn bị thêm muối tiêu để khách vừa miệng hơn.

  Tranh sơn mài

“Tôi ăn bánh mì ở đây từ thời bà Phượng còn bán. Khi đó, bánh mì vẫn có giá 2.000-3.000 đồng”, Cụ Khanh (90 tuổi, Nguyễn Siêu) nói. Cụ thường đi bộ lên bờ hồ sau đó ghé quán ăn sáng.

Chưa từng nghĩ sẽ tăng giá bánh mì

Với mức giá 10.000 đồng/chiếc, bánh mì của quán là quà sáng quen thuộc của nhiều tầng lớp, độ tuổi và nghề nghiệp.

“Từ lúc tiếp quản đến nay, cuối năm 2020 đến đầu năm nay là thời điểm quán gặp khó khăn nhất. Giá thịt lợn leo thang làm tôi phải cân bằng chất lượng và giá bán”.

“Thời điểm đó, tôi phải cân nhắc làm sao dù mọi thứ có tăng thì vẫn giữ nguyên 10.000 đồng/chiếc, để khách ăn ngon mà hợp túi tiền”, chị chủ tâm sự.

“Nhiều người cũng thắc mắc tại sao không tăng giá, nhưng bản thân tôi hiểu mình chỉ bán giá bình dân. Nhiều khách quen của quán là người dân lao động, làm việc cực khổ, tôi không nỡ tăng giá”, chị Linh nói.

Một buổi sáng, quán thường bán được 400 chiếc bánh mì. “Nhiều người thường trêu tôi sẽ nhanh giàu. Nhưng đâu có ai biết, giá cả ngày càng tăng. Tôi chỉ lấy công làm lãi”, chị Linh nói.

  Tranh thêu chữ thập

Khi được hỏi chị vì sao không thêm các loại nhân hay nước sốt khác cho lạ, chị chỉ nhẹ nhàng trả lời: “Hương vị bao nhiêu năm nay vẫn vậy, giờ thêm các loại nhân mới sợ không ngon, khách cũng sẽ không thích. Mọi người đến với quán vì hương vị truyền thống, được khách thường xuyên ủng hộ là vui rồi”.

Từ lúc nối nghiệp, điều khiến chị Linh tự hào nhất là sự uy tín và được khách hàng ủng hộ thường xuyên. Hơn 40 năm với nhiều thăng trầm, quán bánh mì Hàng Gai luôn giữ nguyên sự trọn vẹn, tinh tế trong hương vị.

Đánh giá của thực khách:

Tu Vu Anh: “Bánh mì ngon nhưng khá khô. Quán không bán sữa đậu nên mình chỉ ăn được một chiếc khi ghé quán”.

Đặng Tuấn Anh: “Quán vỉa hè, không có nhiều chỗ nên mình thường mua mang về. Bánh mì vừa miệng, giá rẻ. Quán chủ yếu phục vụ dân phố cổ”.

Huyen Trang Le: “Thời cấp 1, mình thường ăn bánh mì ở đây. Khi ăn mình thường cho thêm muối tiêu để vừa miệng hơn”.

Leo Nguyen: “Đến đây, mình thường gọi 2 chiếc. Nếu quán có thêm rau thơm thì sẽ đỡ ngán”.

Trâm Anh: “Tôi thường đưa con đi học và ghé quán ăn sáng. Bánh mì đáp ứng đúng tiêu chí ngon, bổ, rẻ”.

Quỳnh Anh (Zingnews)