23 C
hanoi
Thứ Bảy, Tháng Tư 17, 2021

Nghệ thuật rối nước là đặc phẩm văn hoá bản địa dân tộc Việt, phát triển ở hầu hết các làng xã quanh kinh thành Thăng Long và phần lớn các phường rối ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.

Múa rối nước là gì?

Múa rối nước (hình thức dùng con rối diễn trò, diễn kịch trên mặt nước) được coi là nét văn hóa phi vật thể đặc sắc của dân tộc Việt Nam, một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống lâu đời ở vùng châu thổ sông Hồng thường diễn ra trong các dịp lễ, hội làng, ngày vui, ngày Tết.

Rối nước có những đặc điểm khác với múa rối thông thường, người ta dùng mặt nước làm sân khấu (còn được gọi là nhà rối hay thủy đình) được dựng lên giữa ao, hồ với kiến trúc cân đối tượng trưng cho mái đình của vùng nông thôn Việt Nam, phía sau có phông che, xung quanh trang trí cờ, quạt, voi, lọng, cổng hàng mã… Những con rối được làm bằng gỗ, biểu diễn nhờ sự điều khiển của những người phía sau phông thông qua hệ thống sào, dây… và được phụ trợ bởi tiếng trống và tiếng sáo.

Con rối làm bằng gỗ được đục đẽo với những đường nét cách điệu riêng sau đó gọt giũa, đánh bóng và trang trí với nhiều màu sơn khác nhau để làm tôn thêm đường nét, tính cách cho từng nhân vật. Nhân vật tiêu biểu nhất là chú Tễu – thân hình tròn trĩnh, nụ cười hóm hỉnh lạc quan. Mở màn, chú Tễu xuất hiện vui vẻ, nghịch ngợm làm nhiệm vụ giáo đầu dẫn chuyện. Phần thân rối là phần nổi lên mặt nước thể hiện nhân vật, còn phần đế là phần chìm dưới mặt nước giữ cho rối nổi bên trên và là nơi lắp máy điều khiển cho quân rối cử động. Máy điều khiển và kỹ xảo điều khiển tạo nên hành động của quân rối nước trên sân khấu chính là mấu chốt của nghệ thuật rối nước. Máy điều khiển được giấu trong lòng nước, lợi dụng sức nước, tạo sự điều khiển từ xa, cống hiến cho người xem nhiều điều kỳ lạ, bất ngờ.

Nghệ nhân rối nước đứng trong buồng trò để điều khiển con rối. Họ thao tác từng cây sào, hoặc giật con rối bằng hệ thống dây bố trí ở bên ngoài hoặc dưới nước. Sự thành công của quân rối nước chủ yếu trông vào sự cử động của thân hình, hành động làm trò đóng kịch của nó. Múa rối nước nhất định phải có âm nhạc. Âm nhạc điều khiển tốc độ, giữ nhịp, dẫn dắt động tác, gây không khí với tiết tấu truyền thống giữ vai trò chủ đạo, nhạc rối nước thường sử dụng các làn điệu chèo hoặc dân ca đồng bằng Bắc Bộ.

Một tiết mục của Nhà hát múa rối Thăng Long

Múa rối nước có từ khi nào?

Theo các truyền thuyết, huyền thoại lịch sử, trò rối nước ra đời từ thời xây thành Cổ Loa, Kinh An Dương Vương, năm 255 trước công nguyên. Còn theo sử sách, văn bia, trò rối nước ra đời năm 1121 (đời Lý).

Trong kho tàng trò rối nước của Việt Nam, có 30 tiết mục cổ truyền và hàng trăm tiết mục rối hiện đại kể về những sự tích dân gian và cuộc sống hàng ngày của người dân Việt. Nghệ thuật rối nước là đặc phẩm văn hoá bản địa dân tộc Việt, phát triển ở hầu hết các làng xã quanh kinh thành Thăng Long và phần lớn các phường rối ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.

Múa rối nước ở Việt Nam hiện nay

Tại Ấn Độ và các nước Đông Nam Á, chỉ có rối tay, rối que và rối dây. Còn múa rối nước thì chỉ gặp ở Việt Nam và Trung Quốc. Theo giáo sư J. Pim-pa-ne-au, múa rối nước đã biến mất ở Trung Quốc và ngày nay “chỉ còn tồn tại ở Việt Nam”.

Đoàn múa rối Trung ương không những chỉ giới thiệu các chương trình múa rối tay, múa rối que và múa rối nước mà còn động viên việc sáng tác các tiết mục mới cũng như việc nghiên cứu về lịch sử múa rối nước.

Năm 1992, Nhà hát Múa rối Thăng Long phục hồi 17 trò rối nước làm sống dậy trò rối nước trên toàn quốc gồm: Bật cờ, Chú Tễu, Múa rồng, Em bé chăn trâu, Cày cấy, Cậu ếch, Bắt vịt, Đánh cá, Vinh quy bái tổ, Múa sư tử, Múa phượng, Lê Lợi trả gươm, Nhi đồng vui chơi, Đua thuyền, Múa lân, Múa tiên, Tứ linh.

Trình diễn múa rối nước

  Các loại hình nghệ thuật

Hiện nay, ở Việt Nam có 6 đoàn nghệ thuật múa rối chuyên nghiệp ở trung ương, Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đắk Lắk và Quảng Trị. Ngoài ra còn có hàng chục phường múa rối nước ở nhiều địa phương của vùng đồng bằng sông Hồng.

Trong những năm qua, nhiều đoàn múa rối nước của Việt Nam tham dự một số liên hoan múa rối quốc tế giành được nhiều giải thưởng cao và đã gây được sự chú ý của khán giả nhiều nước. Với những cố gắng của ngành múa rối nước Việt Nam, nghệ thuật này đang được bảo vệ và phát triển để xứng đáng với tầm vóc của nó trong di sản văn hóa dân tộc. Hi vọng rằng múa rối nước sẽ không chỉ là niềm tự hào của quốc gia mà còn là niềm kiêu hãnh của Việt Nam trên trường quốc tế.

Những nét độc đáo trong nghệ thuật múa rối nước truyền thống tại phường Nam Chấn huyện Nam Trực tỉnh Nam Định

Múa rối nước là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống độc đáo, ra đời và phát triển gắn liền với văn hóa lúa nước vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ. Từ bao đời nay, trò “Leo dây, múa rối” là một trò vui chơi giải trí vô cùng hấp dẫn với người nông dân sau những ngày đồng áng mệt nhọc.

Múa rối nước là một loại hình nghệ thuật đặc biệt, lấy ao hồ làm nơi dựng buồng trò che giấu nghệ thuật điều khiển, mặt nước làm sàn diễn cho quân rối làm trò đóng kịch. Đó là sự kết hợp tài tình giữa nghệ thuật tạo hình với nghệ thuật điều khiển con rối, lấy con rối làm phương tiện chủ yếu để thể hiện nội dung. Múa rối nước là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với mỗi người dân lao động. Trải qua nhiều thế kỷ, múa rối nước từ một loại hình nghệ thuật mang đậm yếu tố dân gian, đã trở thành một nghệ thuật truyền thống, một sáng tạo đặc biệt của người Việt và đang trên đường trở thành một di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo tồn của nhân loại.

Nam Trực – mảnh đất có lịch sử phát triển lâu đời, nơi lưu đậm dấu ấn văn minh của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, vùng đất rất thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp. Là một trong những cái nôi của múa rối nước Việt Nam nói chung, rối nước đồng bằng châu thổ Bắc Bộ nói riêng. Và cũng chính từ các phường rối nơi đây đã sản sinh ra nhiều thế hệ nghệ nhân tài năng có công truyền nghề, tạo dựng lên đoàn múa rối nước trung ương, nay là nhà hát múa rối Việt Nam, từng hãnh diện lần đầu tiên mang rối nước Việt Nam giới thiệu với bạn bè quốc tế tại châu Âu những năm 80. Bên cạnh những giá trị di sản văn hóa phi vật thể vô cùng to lớn đó như hát Chầu văn thì không thể không nhắc đến loại hình nghệ thuật múa rối nước. Nghệ thuật múa rối nước huyện Nam Trực ra đời và phát triển trên nền tảng của hai phường rối Nam Chấn và phường rối Nam Giang. Đó là hai phường rối duy nhất còn duy trì cho đến ngày hôm nay với nhiều tiết mục múa rối nước vô cùng đặc sắc, mang đậm nét văn hóa truyền thống.

Múa rối bắt nguồn từ những trò chơi ngẫu nhiên, tự phát đến có chủ định, truyền cảm. Con rối là nhân vật chính, nhưng phụ thuộc vào sự phối hợp giữa nghệ thuật điêu khắc, kỹ thuật lắp ráp, bài trí sân khấu và nghệ thuật điều khiển con rối, có khả năng tập trung, quy tụ nhiều loại hình nghệ thuật (điêu khắc, hội họa, chèo, tuồng…) và phụ thuộc chủ yếu vào tài điều khiển của diễn viên điều khiển con rối.

Theo truyền thuyết thì lịch sử múa rối nước ra đời từ thời xây dựng thành Cổ La Kinh An Dương Vương năm 225 trước công nguyên. Múa rối nước hình thành từ lâu đời, ra đời và tồn tại cùng với nền văn minh lúa nước ở đồng bằng sông Hồng từ các thời vua Hùng. Và cụ thể hơn múa rối nước ra đời năm 1221 thời vua Lý Nhân Tông, trên bia đá Sùng Thiện Diên Linh đặt tại Chùa Long Đọi xã Đọi Sơn huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam.

Khi nói đến nghệ thuật múa rối trước hết phải nói đến nghệ thuật tạo hình. Nghệ thuật tạo hình đóng vai trò hết sức quan trọng bởi nếu không có tạo hình con rối thì không có biểu diễn múa rối. Nhân vật rối mang tính ước lệ tượng trưng, việc đầu tư sáng tạo không theo một khuôn mẫu nào, mà phải dựa trên kịch bản. Tạo hình nhân vật được kết hợp hài hòa hai yếu tố: nghệ thuật điêu khắc dân gian và nghệ thuật điêu khắc cung đình.

  Các loại nhạc cụ: Sáo

Nét độc đáo của quân rối Nam Chấn là được làm từ gỗ sung và sơn ta để dễ điều khiển dưới nước. Quân rối xưa của phường Nam Chấn nhỏ, xinh xắn, dễ điều khiển, con rối hồn nhiên, sôi động phù hợp với hị hiếu của người dân hoạt bát và ngộ nghĩnh. Hiện nay, vẫn dựa trên các nguyên mẫu dân gian nhưng các con rối được làm khá to, lắp ghép trong một thân hình, cao khoảng 30 – 40 cm. Làm quân rối khá phức tạp, nếu không làm chuẩn sẽ không điều khiển được hoặc diễn rất khó. Để có một con rối hoàn chỉnh, cần mất rất nhiều công đoạn, đòi hỏi sự tỉ mẩn khéo léo của các nghệ nhân. Chất liệu làm nên con rối phải là loại gỗ sung – loại gỗ dai, nhẹ và dẻo để con rối có thể nổi trên mặt nước và người điều khiển con rối dễ dàng biểu diễn. Các bước thực hiện: Nghiên cứu kịch bản; vẽ nhân vật; chọn loại gỗ thích hợp (gỗ sung, gỗ mít..); đục con rối theo kích cỡ, hình dáng đã thống nhất theo bản vẽ; phơi khô, làm nhẵn bề mặt con rối; hom sơn ta (loại sơn chống thấm nước giữ độ bền gỗ) để xốp được quấn nhiều lớp vải mỏng, phủ sơn ta và phơi khô; thếp bạc, vàng cho con rối (theo tính cách tùy từng nhân vật); hóa trang con rối; lắp máy, dây, sào con rối. Thông thường, quân rối nước gồm 2 phần, phần thân nổi trên mặt nước thể hiện nhân vật, còn phần đế chìm dưới mặt nước giữ cho rối nổi đồng thời là nơi lắp máy điều khiển.

Múa rối nước sinh ra từ làng quê, gắn bó với người nông dân vì vậy không gian biểu diễn múa rối vẫn là những làng quê với lũy tre xanh, cánh đồng mênh mông thẳng tắp. Để cho một buổi biểu diễn thành công thì khâu chuẩn bị hết sức quan trọng, cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ cho biểu diễn đều phải chuẩn bị trước. Các con rối được tạo ra bằng vật liệu gỗ dễ kiếm. Các nghệ nhân do biết khai thác mặt nước để diễn trò nên rối từ một vật vô tri vô giác trở thành những nhân vật rất sinh động và hồn nhiên. Buồng trò là nơi giấu mình của các nghệ nhân, đồng thời là nơi để con rối, để sắp trò và để nhạc công biểu diễn .

Đỉnh cao trong nghệ thuật biểu diễn ở phường rối Nam Chấn đó là đưa các con rối ra khỏi sới diễn, để giao lưu cùng khán giả là điều mà không có phường rối nào có thể làm được. Đưa con rối ra khỏi sới diễn theo một hệ dòng dọc và dây ngầm dưới nước, lúc đó con rối được tách khỏi dây và vẫn giữ được sự thăng bằng và các động tác của nó. Nhờ vậy mà các con rối có thể giao lưu cùng khán giả, tặng hoa cho khán giả.

Sân khấu rối nước là khoảng trống trước mặt buồng trò, bề ngang sân khấu là chiều rộng gian giữa khoảng 2m50. Dưới mặt nước là hệ thống nhiều cọc dây của máy điều khiển các quân rối. Phông cảnh trang trí sân khấu là những tấm mành được các nghệ nhân trang trí hình rồng phượng. Hai bên dọc sân khấu bài trí bởi hàng lan can, cửa dọc buồng trò là những lá cờ, cổng chào… Người nghệ nhân múa rối nước đứng trong buồng trò để điều khiển con rối, họ sử dụng từng cây sào, giật con rối bằng hệ thống dây bố trí ở bên ngoài hoặc dưới nước. Sự thành công của quân rối biểu diễn chủ yếu là do sự cử động thân hình, những động tác làm trò của chúng.

Có thể nói, âm nhạc là công cụ đắc lực trong việc thể hiện tâm tư tình cảm của con rối vô tri mà dẫu có lời thoại cũng không thể truyền tải hết. Âm nhạc gắn kết các trò diễn với nhau, tạo cho người xem không có cảm giác bị đứt đoạn giữa các trò diễn, truyền tải được hết nội dung tạo sự giao lưu giữa con rối và người xem. Nhạc cụ chính được sử dụng là trống, não bạt, pháo (ngày xưa) cũng là một âm thanh hỗ trợ đắc lực. Múa rối cần âm thanh mạnh để giữ tiết tấu và khuấy động không khí buổi biểu diễn trong không gian ngoài trời, trong các lễ hội làng ồn ào náo nhiệt. Cho đến ngày nay, đã có nhiều phường rối sử dụng băng đĩa nhưng như vậy đã làm giảm đi sự hấp dẫn của nghệ thuật múa rối nước. Bởi tiết tấu của nhạc sống gây hưng phấn đến người xem, nghệ nhân điều khiển con rối theo âm nhạc lúc thì nhẹ nhàng, lúc thì sôi động, mãnh liệt. Nếu thiếu âm nhạc, không khí của cả chương trình sẽ thiếu đi tính hấp dẫn. Âm nhạc đóng vai trò quan trọng, đứng thứ hai sau kỹ thuật biểu diễn và làm nên giá trị của nghệ thuật dân gian độc đáo này. Ngôn ngữ, cách thể hiện của sân khấu chèo được áp dụng triệt để vào nghệ thuật biểu diễn múa rối nước. Cách độc thoại rối trên sân khấu không đơn thuần là những lời thoại mà đã được thể hiện bằng cách nói có vần, có điệu của nghệ thuật sân khấu chèo. Tiếng trống “sấm nở” của phường Nam Chấn xưa nay còn được nhiều người truyền tụng. Với việc đưa âm nhạc, nghệ thuật sân khấu chèo, tuồng vào trong biểu diễn đã tạo cho múa rối nước một diện mạo mới đáp ứng được nhu cầu thưởng thức nghệ thuật biểu diễn dân gian của khán giả.

  Đàn bầu (độc huyền cầm), quốc hồn quốc túy người Việt Nam

Một trong những yếu tố quan trọng làm nên sự thành công cho các tích trò, đó là kịch bản dàn dựng ở mỗi vở diễn. Nghệ thuật múa rối nước ra đờ bắt nguồn từ những trò chơi dân gian, gắn với những người dân lao động. Do điều kiện tự nhiên và công việc nhà nông, múa rối nước được xây đắp hình thành từ tâm tư tình cảm của người dân lao động, nó tái hiện cuộc sống và ước vọng của thời đại, nội dung ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, truyền thống tương thân tương ái, uống nước nhớ nguồn mang đầy ý nghĩa nhân văn sâu sắc được thể hiện qua các tích như Chọi trâu; Dệt vải trao con; Cáo bắt gà; Đánh cá; Câu ếch… Con rối là những vật vô tri vô giác qua bàn tay khéo léo của con người tạo hóa đã làm cho con rối cử động vô cùng linh hoạt như một con người. Lời loại trong rối nước truyền thống là các bài văn vần, biền ngẫu, không theo mọt hình thức quy củ. Hình tượng nêu lên thường mượn từ các điển tích sử sách cổ xưa.

Đỉnh cao trong nghệ thuật dàn dựng của phường rối nước Nam Chấn đó là đưa thời sự vào trong rối, đó là  điều mà chưa một phường rối nào có thể làm được.

Hiện nay, phường còn khoảng 16 tích trò cổ truyền nhất và rất nhiều tích trò hiện đại kể về những sự tích dân gian, cuộc sống hàng ngày của người dân Việt. Nội dung các tích trò xoay quanh đề tài về sinh hoạt đời thường, lễ hội truyền thống, những câu chuyện mang tính thời sự cao: múa rồng, đấu vật, chọi trâu, đi cấy bắn máy bay, chú Tễu kể chuyện biển đông…Trải qua nhiều biến động, tuy nhiên phong trào biểu diễn múa rối nước ở phường Nam Chấn vẫn được duy trì ở khắp huyện và các tỉnh lân cận. Đây là một tín hiệu đáng mừng trong việc bảo tồn và phát huy vốn nghệ thuật cổ truyền của dân tộc. Hàng năm, cứ vào dịp lễ Tết hay hội làng, phường rối Nam Chấn đều tổ chức các tiết mục rối đặc sắc để phục vụ dân làng, để thế hệ con cháu sau này luôn ghi nhớ và giữ gìn những giá trị tinh túy nhất mà cha ông ta để lại.

Có thể nói, múa rối nước là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc được xem là báu vật của văn hóa dân tộc, là “linh hồn của đồng ruộng Việt Nam”. Nghệ thuật múa rối nước là một loại hình sinh hoạt văn hóa truyền thống lâu đời của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước vùng châu thổ sông Hồng. Thông qua trò rối nước người xem cảm nhận được sắc thái của hội làng, nó phảng phất cuộc sống bình dị và hồn nhiên, từ sự dịu dàng man mác của làng quê, sự chịu thương chịu khó lo cho cuộc sống, vừa trần tục vừa linh thiêng. Đó chính là biểu tượng cho ước mơ của người Việt.

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC

CÓ THỂ BẠN THÍCH XEM

VĂN HÓA VIỆT NAM

TIN MỚI NHẤT

Món ngon từ Giá bể (hay còn gọi là giá biển)

Tuy có vẻ ngoài kém hấp dẫn nhưng giá bể lại là nguyên liệu làm nên nhiều món ăn ngon của vùng biển Hải Phòng.
Hải Phòng không chỉ nổi tiếng với nhiều địa điểm du lịch hấp dẫn mà còn gây ấn tượng với du khách bởi nền ẩm thực đa dạng, hấp dẫn.

Ngoài những đặc sản mang đậm nét văn hóa như bánh đa cua, nem cua bể,… còn có một món ngon nức tiếng khác gắn bó với bao thế hệ người dân đất Cảng không thể không nhắc đến. Đó chính là giá bể.

Giá bể (hay còn gọi là giá biển) là loài nhuyễn thể có lớp vỏ màu xanh, thoạt nhìn khá giống con trai. Phần thịt mềm và ngọt. Chúng sống sâu dưới lớp cát biển nên có phần chân dài, lộ ra ngoài để dễ dàng tìm kiếm thức ăn.

Theo người dân địa phương, giá bể có thể thu hoạch quanh năm nhưng rộ lên nhiều từ khoảng tháng 6 đến tháng 8. Loài hải sản này thường sống vùi mình dưới lớp cát biển và được tìm thấy nhiều ở vùng biển Đồ Sơn, Cát Bà và Cát Hải.

Từ lâu, giá bể đã trở thành nguyên liệu chế biến nên nhiều món ngon, gắn bó với biết bao thế hệ người dân đất Cảng. Mỗi kg giá bể có giá khoảng 150.000 đồng.

Để món ăn thêm chất lượng, người ta phải lựa những con giá bể còn tươi và to đều. Vì giá bể sống trong cát nên quá trình sơ chế khá kỳ công.

  Michelangelo: Từ họa sĩ bị "bỉ bôi" tới đỉnh cao hội họa Phục hưng

Người ta phải ngâm giá bể trong nước ít nhất 6 tiếng để chúng nhả hết các phần cặn bã bên trong cơ thể ra ngoài. Sau đó xả sạch lại với nước là có thể đem chế biến thức ăn.

Giá biển là nguyên liệu làm nên nhiều món ăn nhưng ngon và nổi tiếng nhất vẫn là giá bể xào. Khi chế biến, phần vỏ vẫn được giữ nguyên nên món ăn này được cho là trọn vẹn hương vị nhất.

Sau khi sơ chế sạch, phần thân và chân giá bể được tách rời rồi đem phi thơm với hành tỏi, bột nghệ, giấm cùng các gia vị.

Để tạo độ sệt cho món ăn, người ta cho thêm bột dong hay bột mì/bột năng pha loãng. Món giá bể xào sau khi nấu chín có màu vàng đặc trưng của nghệ, ăn cùng nước sốt thơm ngon, sánh mịn.

Giá bể xào ngon nhất khi ăn nóng nên được ưa chuộng nhất vào mùa đông. Tuy nhiên, với những ai lần đầu thưởng thức có thể sẽ cảm thấy đây là món khá khó ăn.

Ngoài phần chân đã được tách rời có vị giòn, dai sần sật, thơm vị chua chua cay cay khá hấp dẫn, thực khách muốn ăn phần thịt giá bể thì phải bóc lớp vỏ của chúng và thưởng thức từ từ từng con.

Bởi thế mà giá bể xào được nhận xét là món ăn có khả năng rèn tính kiên nhẫn.

  Các loại nhạc cụ: Sáo

Vị ngọt, thơm của thịt giá bể hòa quyện cùng nước sốt sánh mịn, đủ chua cay mặn ngọt khiến thực khách ăn một lần nhớ mãi. Bạn cũng có thể ăn kèm bánh mì chấm với phần nước sốt dậy mùi thơm và đậm đà hương vị.

Gỏi giá bể cũng là món ăn “được lòng” nhiều thực khách nhất. Tuy nhiên món này được chế biến có phần kỳ công hơn giá bể xào.

Sau khi sơ chế, giá bể được hấp chín để giữ độ ngọt rồi tách vỏ, gỡ lấy thịt. Phần chân giá được chần qua nước sôi. Người ta trộn đều giá bể với riềng giã nhuyễn, thính gạo, đậu phộng, mè và lá chanh thái nhỏ. Gỏi giá bể thường được cuốn với bánh tráng, ăn kèm với rau thơm, dứa, khế, chuối xanh.

Ngoài phần thịt mềm và ngọt, linh hồn của món gỏi giá bể còn nằm ở bát nước chấm chua ngọt thơm mùi tỏi, ớt, có vị thanh thanh càng làm tôn lên hương vị hấp dẫn của món ăn.

Cuộn một miếng gỏi, quệt với nước chấm, thực khách sẽ cảm nhận được độ dai giòn sần sật lạ miệng của giá bể và vị chua nhẹ của khế, đắng chát của chuối xanh, hăng hăng của rau sống thấm đượm cả vị chua cay mặn ngọt của nước chấm.

Đến Hải Phòng, thực khách có thể dễ dàng tìm kiếm và thưởng thức món ngon từ giá bể tại các khu chợ đông đúc hay ở các quán ăn vỉa hè, ven đường. Mỗi suất giá bể xào và gỏi giá bể có giá dao động từ 30.000 – 50.000 đồng.

  Tranh đá quý

Thảo Trinh

5 loại cây được người giàu chọn trồng phía trước cửa để ‘thu hút tài lộc’

*Thông tin mang tính chất tham khảo*

Cây cau

Cây cau theo quan niệm dân gian là loại cây có nguồn năng lượng dương, giúp ngăn chặn và làm giảm nguồn năng lượng âm – vốn không có lợi cho sức khỏe con người cũng như khí vận của gia chủ. Dương thinh âm suy sẽ mang đến nhiều năng lượng tích cực, niềm vui và may mắn đến cho gia chủ. Ngoài ra, cây cau là loài thân thẳng, sẽ không cản ánh nắng, gió mát vào nhà.


Cây tre, cây trúc

Đây là loài cây biểu trưng cho sự đoàn kết, bền vững, trường tồn với thời gian. Ngoài mang ý nghĩa vươn lên dù cuộc sống khắc nghiệt, cây này còn mang ý nghĩa đem đến sức mạnh cho gia chủ trong đường công danh sự nghiệp đồng thời nó ngăn vận xui không cho vào nhà.

Cây dừa cảnh

Cây dừa cảnh ngày càng được nhiều gia chủ chọn lựa vì muốn thanh lọc không khí giúp bảo vệ sức khỏe cho gia chủ. Dừa cảnh còn đại diện cho sự sung túc, may mắn và những điềm lành trong đường con cháu, công danh sự nghiệp.

Cây bưởi

Bưởi là 1 loại cây không còn quá xa lạ với người Việt, tuy nhiên ít ai biết rằng bưởi lại là loài cây được các đại gia ưa thích. Theo quan niệm, trước cửa nhà mà trồng 1 cây bưởi thì thần Tài sẽ thường xuyên ghé đến và mang tiền tài đổ đầy nhà. Bên cạnh đó, mùi thơm của hương bưởi cũng khiến gia chủ cảm thấy thoải mái mỗi khi về nhà.

  Nghệ thuật thị giác


Cây tùng

Cây tùng khi đặt trước cửa nhà không chỉ giúp toàn thể vẻ ngoài của ngôi nhà nhìn sang, đẹp và cao cấp hơn mà nó còn giúp thanh lọc không khí thêm phần mát mẻ. Đây là loại cây được trồng nhiều với mục đích cầu mong sức khỏe dồi dào cho gia chủ và các thành viên trong gia đình. Theo phong thủy thì hướng tốt nhất để trông cây tùng chính là hướng Nam.

Nguồn tham khảo: phunutoday

Máy bay điện Cruise

Công ty Mỹ phát triển mẫu máy bay điện có tốc độ 320 km/h với phạm vi bay dài, lên tới 480 km, nhờ cách tiết kiệm năng lượng mới.

Vấn đề lớn nhất đối với máy bay điện Cất hạ cánh thẳng đứng (VTOL) chính là hệ thống VTOL. Dù mang lại rất nhiều lợi ích, VTOL lại tiêu tốn mức năng lượng khổng lồ và đòi hỏi viên pin lớn. Khi chuyển sang bay ngang, các cánh quạt vốn sắp xếp theo chiều dọc cũng tạo thêm lực cản, làm hạn chế quãng đường bay được và vận tốc tối đa.

Công ty Mỹ Talyn Air phát triển mẫu máy bay điện mới mang tên Cruise có thể khắc phục vấn đề về năng lượng, New Atlas hôm 21/3 đưa tin. Cruise hoạt động nhờ Lift – hệ thống VTOL tách rời.

Lift có 8 cánh quạt lớn xếp thành 4 cặp đồng trục. Nó sẽ ghép nối với nóc của Cruise để giúp máy bay này cất cánh thẳng đứng. Sau khi Cruise đạt độ cao và vận tốc cần thiết, Lift sẽ tách ra để máy bay tự bay tiếp. Lift sẽ trở về trạm và sạc pin, bù lại phần năng lượng khổng lồ vừa tiêu thụ.

Máy bay Cruise và hệ thống Lift ghép nối trên không trung. Ảnh: Talyn Air.

Trong khi đó, Cruise có thể tiếp tục chở 5 hành khách đến đích. Máy bay này có phạm vi di chuyển lên tới hơn 480 km, dài hơn nhiều mẫu máy bay điện cất hạ cánh thẳng đứng khác. Tốc độ tối đa của nó là khoảng 320 km/h.

  Nghệ thuật thị giác

Khi hạ cánh, Cruise có thể tiếp đất giống loại máy bay cánh cố định. Còn nếu muốn đáp xuống một sân bay trực thăng, nó sẽ cần ghép nối với một hệ thống Lift khác. Để đuổi theo và ghép nối với máy bay Cruise trên không, phương tiện Lift cũng được trang bị cánh giống tàu lượn và một cặp động cơ đẩy giúp tăng tốc.

Tuy nhiên, mẫu máy bay tách rời hệ thống VTOL này cũng gặp nhiều thách thức, trước hết là công đoạn ghép nối. Mối liên kết giữa hai phương tiện cần đơn giản để ghép nối giữa không trung, đồng thời đủ mạnh để nâng một máy bay chở 5 người lên khỏi mặt đất. Việc chuyển đổi giữa quá trình bay lên thẳng và bay ngang cũng sẽ rất phức tạp.

Thu Thảo (Theo New Atlas)

Ý nghĩa thông số kỹ thuật của Camera giám sát

Camera quan sát, camera an ninh, camera chống trộm… nói chung là thiết bị dùng ghi lại hình ảnh trong phạm vi hoạt động của nó rồi lưu trữ vào hệ thống dữ liệu có thể là đầu ghi, có thể là lưu trên điện toán đám mây hoặc truyền tải hình ảnh trực tiếp đến điện thoại, máy tính của người dùng. Nói về camera quan sát thì có rất nhiều bộ phận vì vậy để hiểu và nắm được sự khác nhau chúng ta phải tìm hiểu một sô thông số kỹ thuật cơ bản sau:

Ý nghĩa các thông số kỹ thuật của Camera quan sát:

–  Auto white balance: Tự động cân bằng ánh sáng trắng đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho camera cân bằng ánh sáng lấy nét và cho hình ảnh rõ nét hơn.

–  Auto Gaint Control (AGC): Chức năng có tác dụng tăng tín hiệu hình ảnh, tăng độ nhạy của cảm biến khi camera đặt trong điều kiện ánh sáng yếu.

–  Backlight Light Compensation (BLC): Bù ánh sáng ngược với kĩ thuật này thì việc lắp đặt ở những nơi thiếu ánh sáng sẽ giúp cho việc hình ảnh của camera quan sát sẽ không bị nhiễu và mờ.

–  Wide Dynamic Range (WDR): Chức năng này làm sáng vùng tối và làm tối vùng sáng điều chỉnh sao cho hình ảnh hiện lên hài hòa.

Tính năng Wide Dynamic Range (WDR)

–  3D – DNR giảm nhiễu kỹ thuật số:

  • Cải thiện tối đa hình ảnh, hộ trợ cho việc nhận diện.
  • Việc chống nhiễu làm giảm giảm kích thước File giúp giảm dung lượng lưu trữ và băng thông
  • Giảm thiểu báo động sai do phát hiện chuyển động
  Đàn bầu (độc huyền cầm), quốc hồn quốc túy người Việt Nam

3D – DNR

–  Auto electrolic Shutter: Tự động chống sốc điện là một trong những yếu tố giúp cho camera hoạt động ổn định và bền bỉ hơn, thường là những nơi hay mất điện đột ngột và điện áp yếu, những chiếc camera không có chỉ số này rất dễ bị cháy hỏng do điện áp chập chờn.

–  Visible Distance: Khoảng cách quan sát của camera, giúp người dùng chọn lựa sao cho phù hợp với khoảng cách mà mình cần quan sát.

–  Water resistance/ water proof: đây là chỉ số chống chịu nước, với những môi trường đặc biệt như trong nước hay ngoài trời nơi chịu nhiều ảnh hưởng của mưa gió thời tiết, với những chiếc camera lắp đặt ngoài trời nên có chỉ số này sẽ giúp chúng bền bỉ hơn.

–  Auto IRIS: tự động hiệu chỉnh ánh sáng cũng giống như cần bằng ánh sáng giúp lấy hình ảnh rõ ràng hơn.

–  Horizontal TV lines: độ phân giải 320-540 TV lines, số càng lớn thì hình cảnh càng chất lượng, đây là một yếu tố quan trọng nhất để đánh giá về chất lượng hình ảnh của camera.

–  Image sensor: cảm biến hình ( thường có 2 kích thước 1/3” và 1/4 “, kích thước cảm biến hình càng lớn thì cho chất lượng ảnh tốt)

–  Minimum Illumination: cường độ ánh sáng nhỏ nhất ( tính bằng LUX)

Thông số này nói lên rằng, Camera chỉ có thể hoạt động ở cường độ ánh sáng lớn hơn cường độ ánh sáng nhỏ nhất. Trong điều kiện quá tối, nếu không phải là Camera có chức năng hồng ngoại thì sẽ không hoạt động được.

  Michelangelo: Từ họa sĩ bị "bỉ bôi" tới đỉnh cao hội họa Phục hưng

Ánh nắng mặt trời: 4000 lux

Mây: 1000lux

Ánh sáng đèn tuýp: 500 lux,

Bầu trời có mây: 300lux

Ánh sáng đèn tuýp đỏ 500 lux, trắng (300 lux) trắng sáng 1lux

Đêm không trăng 0.0001 Lux

Xin chú ý đến loại Camera có chức năng Auto Iris (Tự động hiệu chỉnh ánh sáng). Đặc điểm của Camera loại này là chỉ với 1 nguồn sáng nhỏ, nó có thể tự động khuyếch đại nguồn sáng đó lên để có thể quan sát được.

–  Power Supply: Nguồn cung cấp

–  Vandal Proof: chống va đập

–  IR effective Sistance: khoảng cách hoạt động của tia hồng ngoại, để chúng ta biết được khoảng quan sát của camera vào ban đêm.

–  IR (Infrared rays): tia hồng ngoại giúp nhìn rõ vật thể kể cả ban đêm trong điều kiện không có ánh sáng.

–  Ir Led: số lượng đèn hồng ngoại, càng lớn thì hình ảnh ban đêm càng rõ ràng,

–  CCDTotalpixels: số điểm ảnh ( số điểm ảnh lớn -> hình ảnh sắc nét, nhưng sẽ tốn nhiều bộ nhớ do dung lượng ảnh lớn, ảnh hưởng nhiều đến tốc độ đường truyền)

–  Pan/Tilt/Zoom: chức năng quay trái phải/ trên dưới/ phóng to/thu nhỏ.

–  Indoor/outdoor: camera đặt trong nhà hay ngoài trời.

–  Tiêu cự ống kính tương đương góc mở ( quan sát):

2.1mm – 138 độ

2.5mm – 100 độ

2.8mm – 85 độ

3.6mm – 79 độ

4mm – 61 độ

6mm – 46 độ

  Nghệ thuật thị giác

8mm – 34 độ

12mm – 22 độ

Đó là những thông số kỹ thuật giúp cho người sử dụng có thể chủ động lựa chọn, so sánh để  loại camera quan sát phù hợp với mục đích sử dụng của mình, hoặc nếu quí khách không nắm rõ các thông thông số để lựa chọn, hãy liên hệ với chúng tôi, chỉ cần quí khách đưa ra nhu cầu và mục đích sử dụng chúng tôi sẽ tư vấn tận tình giúp quí khách chọn lựa được chủng loại Camera phù hợp nhất, kinh tế nhất.

Quán bánh mì không tên hơn 40 tuổi ở Hà Nội

Chỉ với một kiểu bánh mì nhân truyền thống, quán giữ chân thực khách không chỉ bằng vị mà còn sự tận tình của chủ quán.

Theo chủ quán, cụ Phượng là người đầu tiên mở hàng bánh mì từ năm 1979. Hiện chị Linh – con dâu thay cụ tiếp quản.

“Quán được mẹ chồng tôi gây dựng, bà đã rất tâm huyết với nghề. Sau khi bà mất, tôi cố gắng nối nghiệp để gìn giữ thương hiệu gia đình”, chị Linh chia sẻ.

Bánh mì 10.000 đồng

Nằm ở ngã ba Hàng Gai giao với Tô Tịch, quán nép mình trong căn nhà cổ, giữa dãy phố nhộn nhịp. Địa chỉ này tận dụng vỉa hè trước nhà làm nơi phục vụ khách ăn tại chỗ, vỏn vẹn 4-5 chiếc ghế nhựa.

Suốt nhiều năm qua, quán chỉ bán bánh mì với nhân pate, ruốc, xúc xích đỏ, thịt xá xíu, và bơ. Mỗi chiếc thập cẩm chỉ 10.000 đồng.

Bí quyết níu chân thực khách là pate và xúc xích đỏ. Ở đây, pate chỉ sử dụng mỡ phần, thịt ba chỉ, gan lợn, hành phi thái nhỏ đã được rang với mỡ gà, khiến vị lạ và béo ngậy hơn. Xúc xích đỏ được làm từ bì lợn và tạo màu bằng hoa hiên.

Tương ớt của quán cũng là loại đặc biệt được làm theo công thức gia truyền. Bánh mì được lựa chọn từ mối quen phải làm riêng theo yêu cầu của quán.

Trải qua 40 năm, bánh mì Hàng Gai vẫn làm theo công thức gia truyền, không thay đổi, thêm bớt gia vị.

  Nghệ thuật thị giác

Mở cửa từ sáng sớm nên từ 3h, chị Linh đã dậy để chuẩn bị nguyên liệu. Pate và xúc xích đỏ được làm từ tối hôm trước.

Khoảng 6h30, khách ghé quán đã vây kín xung quanh. Nhiều phương tiện nối đuôi nhau, kiên nhẫn chờ đợi tới lượt mình.

Đa số trong đó là khách ruột, đã ăn lâu năm. Chị Linh thường gọi những vị khách lớn tuổi là “u”, “bố”. Nhiều khách đến quán không cần gọi món, chị đã thuộc luôn sở thích của họ.

Chị Huyền (33 tuổi, Hàng Hòm) là khách thân thiết của quán bánh mì Hàng Gai từ thời đi học, tính đến nay đã hơn 20 năm. Thứ “giữ chân” chị ở quán là pate và xúc xích đỏ.

“Đến đây, mình thường ăn bánh mì pate, xúc xích. Bánh mì của quán vẫn giữ được hương vị truyền thống. Mình không thích các loại bánh mì hiện đại có nhiều sốt hay các loại nhân khác”, chị Huyền chia sẻ với Zing.

Vỏ bánh mì giòn, thơm. Pate thơm ngậy mùi hành phi đặc biệt. Xúc xích đỏ khá dai. Dù bánh mì luôn được nướng bằng lò nhưng chỉ đủ làm nóng vỏ ngoài, phần nhân bên trong tương đối nguội.

Đặc biệt, ở đây, bánh mì không có rau thơm ăn kèm nên khá khô và nhanh ngán. Nếu là người quen ăn đậm, bạn sẽ thấy phần nhân bánh tương đối nhạt. Tuy nhiên, chủ quán có chuẩn bị thêm muối tiêu để khách vừa miệng hơn.

  Các loại nhạc cụ: Sáo

“Tôi ăn bánh mì ở đây từ thời bà Phượng còn bán. Khi đó, bánh mì vẫn có giá 2.000-3.000 đồng”, Cụ Khanh (90 tuổi, Nguyễn Siêu) nói. Cụ thường đi bộ lên bờ hồ sau đó ghé quán ăn sáng.

Chưa từng nghĩ sẽ tăng giá bánh mì

Với mức giá 10.000 đồng/chiếc, bánh mì của quán là quà sáng quen thuộc của nhiều tầng lớp, độ tuổi và nghề nghiệp.

“Từ lúc tiếp quản đến nay, cuối năm 2020 đến đầu năm nay là thời điểm quán gặp khó khăn nhất. Giá thịt lợn leo thang làm tôi phải cân bằng chất lượng và giá bán”.

“Thời điểm đó, tôi phải cân nhắc làm sao dù mọi thứ có tăng thì vẫn giữ nguyên 10.000 đồng/chiếc, để khách ăn ngon mà hợp túi tiền”, chị chủ tâm sự.

“Nhiều người cũng thắc mắc tại sao không tăng giá, nhưng bản thân tôi hiểu mình chỉ bán giá bình dân. Nhiều khách quen của quán là người dân lao động, làm việc cực khổ, tôi không nỡ tăng giá”, chị Linh nói.

Một buổi sáng, quán thường bán được 400 chiếc bánh mì. “Nhiều người thường trêu tôi sẽ nhanh giàu. Nhưng đâu có ai biết, giá cả ngày càng tăng. Tôi chỉ lấy công làm lãi”, chị Linh nói.

  Các loại hình nghệ thuật

Khi được hỏi chị vì sao không thêm các loại nhân hay nước sốt khác cho lạ, chị chỉ nhẹ nhàng trả lời: “Hương vị bao nhiêu năm nay vẫn vậy, giờ thêm các loại nhân mới sợ không ngon, khách cũng sẽ không thích. Mọi người đến với quán vì hương vị truyền thống, được khách thường xuyên ủng hộ là vui rồi”.

Từ lúc nối nghiệp, điều khiến chị Linh tự hào nhất là sự uy tín và được khách hàng ủng hộ thường xuyên. Hơn 40 năm với nhiều thăng trầm, quán bánh mì Hàng Gai luôn giữ nguyên sự trọn vẹn, tinh tế trong hương vị.

Đánh giá của thực khách:

Tu Vu Anh: “Bánh mì ngon nhưng khá khô. Quán không bán sữa đậu nên mình chỉ ăn được một chiếc khi ghé quán”.

Đặng Tuấn Anh: “Quán vỉa hè, không có nhiều chỗ nên mình thường mua mang về. Bánh mì vừa miệng, giá rẻ. Quán chủ yếu phục vụ dân phố cổ”.

Huyen Trang Le: “Thời cấp 1, mình thường ăn bánh mì ở đây. Khi ăn mình thường cho thêm muối tiêu để vừa miệng hơn”.

Leo Nguyen: “Đến đây, mình thường gọi 2 chiếc. Nếu quán có thêm rau thơm thì sẽ đỡ ngán”.

Trâm Anh: “Tôi thường đưa con đi học và ghé quán ăn sáng. Bánh mì đáp ứng đúng tiêu chí ngon, bổ, rẻ”.

Quỳnh Anh (Zingnews)