27 C
hanoi
Thứ Năm, Tháng Tư 22, 2021
Quan niệm truyền thống cho rằng lúc xuất hiện nhà nước đầu tiên (niên biểu lập quốc) ở Việt Nam cách đây chừng bốn ngàn năm. Song những nghiên cứu gần đây đã xem xét lại khoảng cách đó, đưa ra kết luận khác hẳn nhưng đầy sức thuyết phục và phù hợp với thực tế khách quan.

Thời điểm bắt đầu lịch sử văn minh của mỗi quốc gia là lúc xuất hiện nhà nước đầu tiên. Với lịch sử Việt Nam, đó là thời các vua Hùng. Tuy nhiên, dân tộc ta bước vào thời kỳ dựng nước chưa được bao lâu thì mất nước.

Hơn một nghìn năm Bắc thuộc (từ năm 179 trước Công nguyên (TCN) đến năm 938), dưới sức mạnh đô hộ và đồng hóa, lịch sử văn hiến của người Việt đã gần như bị xóa mọi dấu vết, không được ghi chép để truyền lại. Cái duy nhất mà kẻ thù ngoại bang không thể xóa được đó là ký ức của nhân dân ta về lịch sử tổ tiên, ông cha mình.

Bởi vậy, suốt một thời gian dài, thời kỳ lập quốc của dân tộc Việt Nam chỉ được phản ánh trong huyền thoại, cổ tích, truyền thuyết dân gian. Các huyền thoại Lạc Long Quân – Âu Cơ, Sơn Tinh – Thủy Tinh, Tiên Dung – Chử Đồng Tử, Thánh Gióng; những sự tích về trầu cau, bánh chưng, bánh dày, dưa hấu… đều liên quan đến phong tục, tập quán, cuộc sống của người Việt xưa, ít nhiều khắc họa hình ảnh của thời kỳ lập quốc. Các “pho sử” đó có sức sống khá mãnh liệt, bền lâu dù không chính xác và không thành văn.

Niên biểu thời lập quốc Việt Nam có phải từ 4000 năm trước?

Từ khi giành được độc lập quốc gia, ý thức tự tôn và nhu cầu nhận thức về nguồn gốc dân tộc đã kích thích, thúc đẩy các nhà sử học nước ta đi sâu tìm hiểu lịch sử thời đại Hùng Vương. Đến thời Trần (1226-1400), những huyền thoại, sự tích, truyền thuyết – vốn chỉ lưu truyền trong dân gian – lần đầu được sưu tầm, tập hợp, biên khảo và ghi chép lại trong các tài liệu thành văn, mà đáng chú ý nhất là bộ sách Việt điện u linh (của Lý Tế Xuyên) và Lĩnh Nam chích quái (của Trần Thế Pháp).

Sang thế kỷ 15, nhà sử học nổi tiếng Ngô Sĩ Liên đã – một cách chính thức và có hệ thống – đưa những tư liệu dân gian ấy vào bộ chính sử quy mô lớn do ông và các sử thần triều Lê biên soạn. Trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư này, Ngô Sĩ Liên dành riêng một kỷ, đặt tên là Kỷ Hồng Bàng, để trình bày những truyền thuyết mà ông thu thập được với diễn biến theo thứ tự thời gian: Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân – 18 đời Hùng Vương. Ngô Sĩ Liên cũng là người đầu tiên nêu ra những niên đại tuyệt đối cho thời kỳ lập quốc đó.

  Hang động Pha lê (Cavescrystal)

Theo ông thì Kinh Dương Vương – ông nội của vua Hùng thứ nhất – lên ngôi vào đời Phục Hy bên Trung Quốc (cụ thể là năm 2879 TCN); còn vua Hùng cuối cùng (thứ 18) chấm dứt sự trị vì của mình vào năm Chu Noãn Vương thứ 57 (tức năm 258 TCN).

>

Hoa văn trên hiện vật Thố gốm Phùng Nguyên.

Những mốc thời gian trên được nhiều người cho là chuẩn xác, là cơ sở để khẳng định cách đây chừng bốn nghìn năm, dân tộc ta đã bước vào thời kỳ lập quốc (các cụm từ “bốn nghìn năm lịch sử”, “bốn nghìn năm văn hiến”, “bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước”… rất hay gặp trong sách báo và cuộc sống hàng ngày của người Việt Nam).

Thế nhưng, cũng không ít người nghi ngờ một cách hoàn toàn có lý rằng vua chúa không thể có tuổi thọ của thần thánh, vậy mà trong suốt 2621 năm (2879 – 258 = 2621), chỉ có 20 đời vua (Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và 18 vua Hùng) nối tiếp nhau, trung bình mỗi vua trị vì…131 năm!

Hơn nữa, những điều Ngô Sĩ Liên đưa vào chính sử đều là huyền thoại và truyền thuyết. Huyền thoại, cổ tích, truyền thuyết mang tính lịch sử, nhưng không phải là thực tế lịch sử. Do đó, không chỉ dựa vào truyền thuyết nói chung để ấn định niên đại tuyệt đối cho các sự kiện lịch sử. Ngô Sĩ Liên trình bày về Kỷ Hồng Bàng với nhiều sự việc, nhiều mốc thời gian khá rõ ràng, nhưng lại không đưa được những chứng cớ xác đáng, có sức thuyết phục để chứng minh. Ngay bản thân ông, sau khi nêu xong những vấn đề trên, cũng đành viết: “Hãy tạm thuật lại chuyện cũ để truyền lại sự nghi ngờ thôi”!

Về mặt lý luận, nhà nước thường chỉ ra đời khi cơ sở kinh tế đã phát triển, tạo tiền đề cho những chuyển biến xã hội tới mức có sự phân hóa về địa vị và quyền lực. Thực tế cho thấy, hầu hết các nhà nước đầu tiên trên thế giới đều xuất hiện vào giai đoạn phát triển nhất của thời đại đồ đồng hoặc đầu thời đại đồ sắt.

Ngày nay, qua các phát hiện khảo cổ, khoa học lịch sử Việt Nam đã thiết lập được tương đối hoàn chỉnh sơ đồ diễn biến văn hóa vật chất của dân tộc ta, từ sơ kỳ thời đại đồ đồng đến sơ kỳ thời đại đồ sắt, với các giai đoạn phát triển cơ bản theo thứ tự: Văn hóa Phùng Nguyên – Văn hóa Đồng Đậu – Văn hóa Gò Mun – Văn hóa Đông Sơn.

  Bí ẩn Nam Cực - Khoan sâu xuống lớp băng Nam Cực

Theo kết quả xác định niên đại bằng phương pháp cacbon phóng xạ (C14), Văn hóa Phùng Nguyên – thuộc sơ kỳ thời đại đồ đồng – tồn tại cách đây chừng bốn nghìn năm. Như vậy, nếu theo quan niệm phổ biến lâu nay, thì thời điểm nhà nước đầu tiên xuất hiện trên miền đất nước ta (thời điểm lập quốc) tương ứng vớiniên đại của Văn hóa Phùng Nguyên.

Thế nhưng, trong tất cả các hiện vật khảo cổ khai quật được thuộc nền Văn hóa này, ngoài ít mẩu xỉ đồng, chưa hề tìm thấy bất kỳ công cụ bằng đồng nào. Công cụ bằng đá vẫn còn phổ biến và chiếm ưu thế tuyệt đối. Các nhà sử học đều thống nhất kết luận rằng xã hội thời Văn hóa Phùng Nguyên chưa vượt khỏi hình thái công xã nguyên thủy và do đó, không thể khẳng định trước đây bốn nghìn năm dân tộc ta đã bước vào thời đại văn minh, đã có nhà nước!

Tiếp sau Văn hóa Phùng Nguyên là các giai đoạn phát triển Văn hóa Đồng Đậu và Gò Mun. Dù số lượng, chất lượng của công cụ bằng đồng có xu hướng ngày càng tăng, nhưng cũng chưa thấy chứng cớ rõ rệt nào về sự phân hóa xã hội – động lực cần thiết cho sự xuất hiện của nhà nước.

Họa tiết hình học trên mặt trống đồng Đông Sơn

Sang thời Văn hóa Đông Sơn, con người đã thành thạo kỹ thuật đúc đồng và bắt đầu biết chế tạo công cụ từ quặng sắt. Họ đã có thể làm ra những đồ dùng tinh xảo, đòi hỏi trình độ mỹ thuật và kỹ thuật cao (như trống đồng, thạp đồng, ấm đồng…). Nền kinh tế khá phát triển. Nhiều tài liệu, hiện vật khảo cổ cho thấy sự phân hóa giai cấp cũng đã rõ rệt.

Ví dụ, trong di chỉ mộ táng Việt Khê (Hải Phòng) – được xác định có niên đại tuyệt đối là 2462 ± 100 năm (tính đến năm 1997), thuộc thời Văn hóa Đông Sơn – các nhà khảo cổ phát hiện 4 ngôi mộ chôn quan tài hình thuyền.

Ba ngôi trong số đó hoàn toàn không có hiện vật chôn kèm; còn ngôi thứ tư lại chôn theo tới 107 hiện vật với 73 hiện vật bằng đồng (có cả những đồ dùng sang trọng như khay, ấm, thạp, thố, bình, âu…). Sự khác biệt giữa các ngôi mộ thể hiện sự phân biệt sâu sắc về địa vị, vai trò, tài sản… của chủ nhân chúng khi còn sống.

  Chùa Tam Chúc

>Các nhà sử học ngày càng thống nhất, chung quan điểm khi cho rằng nhà nước đầu tiên trên miền đất nước ta chỉ có thể xuất hiện vào thời Văn hóa Đông Sơn – giai đoạn phát triển đỉnh cao của thời đại đồ đồng và giai đoạn đầu của thời kỳ đồ sắt. Quan điểm này được cộng đồng khoa học quốc tế thừa nhận – chẳng hạn, trong nhiều công trình lịch sử, xã hội học của các tác giả nước ngoài, đã dùng từ “văn minh” (civilization) thay vì “văn hóa” (culture) khi bàn về Văn hoá Đông Sơn của Việt Nam.

Do vậy, chỉ có thể dùng niên đại của Văn hóa Đông Sơn làm giới hạn đầu cho thời kỳ lập quốc của dân tộc ta, cách đây chừng 27 thế kỷ. Nó cũng phù hợp với ghi chép của Việt sử lược – bộ sử khuyết danh nhưng có độ chính xác cao, được biên soạn sớm nhất ở nước ta. Theo đó “…Đến thời Trang Vương nhà Chu (696-681 TCN), ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô tại Phong Châu, phong tục thuần phác, chính sự dùng lối kết nút, truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương”.

Trong quá trình sửa đổi Hiến pháp (đạo luật cơ bản, có giá trị pháp lý cao nhất, quy định chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, quyền và nghĩa vụ công dân, tổ chức bộ máy nhà nước) năm 1992, Quốc hội Việt Nam đã tiếp nhận quan điểm trên của các nhà sử học để thay cụm từ “Trải qua bốn nghìn năm lịch sử…” ghi trong Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1980 bằng cụm từ “Trải qua mấy ngàn năm lịch sử…” trong Hiến pháp 1992. Hiến pháp 2013 vẫn duy trì sự thay đổi đó.

Viết như thế vừa tôn trọng thực tế lịch sử khách quan, vừa chính xác lại vừa tạo điều kiện cho những khẳng định mới, phát hiện mới của khoa học. Chúng ta có quyền và rất nên tự hào về lịch sử lâu đời của dân tộc, nhưng cần tự hào đúng những gì mình có. Hơn nữa, với niên biểu lập quốc cách đây hơn 25 thế kỷ, Việt Nam vẫn là một trong những nước nảy nở nền văn minh sớm trên thế giới.

Theo Sơn Hà/Khám phá
 

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC

CÓ THỂ BẠN THÍCH XEM

VĂN HÓA VIỆT NAM

TIN MỚI NHẤT

Món ngon từ Giá bể (hay còn gọi là giá biển)

Tuy có vẻ ngoài kém hấp dẫn nhưng giá bể lại là nguyên liệu làm nên nhiều món ăn ngon của vùng biển Hải Phòng.
Hải Phòng không chỉ nổi tiếng với nhiều địa điểm du lịch hấp dẫn mà còn gây ấn tượng với du khách bởi nền ẩm thực đa dạng, hấp dẫn.

Ngoài những đặc sản mang đậm nét văn hóa như bánh đa cua, nem cua bể,… còn có một món ngon nức tiếng khác gắn bó với bao thế hệ người dân đất Cảng không thể không nhắc đến. Đó chính là giá bể.

Giá bể (hay còn gọi là giá biển) là loài nhuyễn thể có lớp vỏ màu xanh, thoạt nhìn khá giống con trai. Phần thịt mềm và ngọt. Chúng sống sâu dưới lớp cát biển nên có phần chân dài, lộ ra ngoài để dễ dàng tìm kiếm thức ăn.

Theo người dân địa phương, giá bể có thể thu hoạch quanh năm nhưng rộ lên nhiều từ khoảng tháng 6 đến tháng 8. Loài hải sản này thường sống vùi mình dưới lớp cát biển và được tìm thấy nhiều ở vùng biển Đồ Sơn, Cát Bà và Cát Hải.

Từ lâu, giá bể đã trở thành nguyên liệu chế biến nên nhiều món ngon, gắn bó với biết bao thế hệ người dân đất Cảng. Mỗi kg giá bể có giá khoảng 150.000 đồng.

Để món ăn thêm chất lượng, người ta phải lựa những con giá bể còn tươi và to đều. Vì giá bể sống trong cát nên quá trình sơ chế khá kỳ công.

  Chùa Tam Chúc

Người ta phải ngâm giá bể trong nước ít nhất 6 tiếng để chúng nhả hết các phần cặn bã bên trong cơ thể ra ngoài. Sau đó xả sạch lại với nước là có thể đem chế biến thức ăn.

Giá biển là nguyên liệu làm nên nhiều món ăn nhưng ngon và nổi tiếng nhất vẫn là giá bể xào. Khi chế biến, phần vỏ vẫn được giữ nguyên nên món ăn này được cho là trọn vẹn hương vị nhất.

Sau khi sơ chế sạch, phần thân và chân giá bể được tách rời rồi đem phi thơm với hành tỏi, bột nghệ, giấm cùng các gia vị.

Để tạo độ sệt cho món ăn, người ta cho thêm bột dong hay bột mì/bột năng pha loãng. Món giá bể xào sau khi nấu chín có màu vàng đặc trưng của nghệ, ăn cùng nước sốt thơm ngon, sánh mịn.

Giá bể xào ngon nhất khi ăn nóng nên được ưa chuộng nhất vào mùa đông. Tuy nhiên, với những ai lần đầu thưởng thức có thể sẽ cảm thấy đây là món khá khó ăn.

Ngoài phần chân đã được tách rời có vị giòn, dai sần sật, thơm vị chua chua cay cay khá hấp dẫn, thực khách muốn ăn phần thịt giá bể thì phải bóc lớp vỏ của chúng và thưởng thức từ từ từng con.

Bởi thế mà giá bể xào được nhận xét là món ăn có khả năng rèn tính kiên nhẫn.

  Bí ẩn Nam Cực - Khoan sâu xuống lớp băng Nam Cực

Vị ngọt, thơm của thịt giá bể hòa quyện cùng nước sốt sánh mịn, đủ chua cay mặn ngọt khiến thực khách ăn một lần nhớ mãi. Bạn cũng có thể ăn kèm bánh mì chấm với phần nước sốt dậy mùi thơm và đậm đà hương vị.

Gỏi giá bể cũng là món ăn “được lòng” nhiều thực khách nhất. Tuy nhiên món này được chế biến có phần kỳ công hơn giá bể xào.

Sau khi sơ chế, giá bể được hấp chín để giữ độ ngọt rồi tách vỏ, gỡ lấy thịt. Phần chân giá được chần qua nước sôi. Người ta trộn đều giá bể với riềng giã nhuyễn, thính gạo, đậu phộng, mè và lá chanh thái nhỏ. Gỏi giá bể thường được cuốn với bánh tráng, ăn kèm với rau thơm, dứa, khế, chuối xanh.

Ngoài phần thịt mềm và ngọt, linh hồn của món gỏi giá bể còn nằm ở bát nước chấm chua ngọt thơm mùi tỏi, ớt, có vị thanh thanh càng làm tôn lên hương vị hấp dẫn của món ăn.

Cuộn một miếng gỏi, quệt với nước chấm, thực khách sẽ cảm nhận được độ dai giòn sần sật lạ miệng của giá bể và vị chua nhẹ của khế, đắng chát của chuối xanh, hăng hăng của rau sống thấm đượm cả vị chua cay mặn ngọt của nước chấm.

Đến Hải Phòng, thực khách có thể dễ dàng tìm kiếm và thưởng thức món ngon từ giá bể tại các khu chợ đông đúc hay ở các quán ăn vỉa hè, ven đường. Mỗi suất giá bể xào và gỏi giá bể có giá dao động từ 30.000 – 50.000 đồng.

  Hang động Xanh Grotto Azzurra

Thảo Trinh

5 loại cây được người giàu chọn trồng phía trước cửa để ‘thu hút tài lộc’

*Thông tin mang tính chất tham khảo*

Cây cau

Cây cau theo quan niệm dân gian là loại cây có nguồn năng lượng dương, giúp ngăn chặn và làm giảm nguồn năng lượng âm – vốn không có lợi cho sức khỏe con người cũng như khí vận của gia chủ. Dương thinh âm suy sẽ mang đến nhiều năng lượng tích cực, niềm vui và may mắn đến cho gia chủ. Ngoài ra, cây cau là loài thân thẳng, sẽ không cản ánh nắng, gió mát vào nhà.


Cây tre, cây trúc

Đây là loài cây biểu trưng cho sự đoàn kết, bền vững, trường tồn với thời gian. Ngoài mang ý nghĩa vươn lên dù cuộc sống khắc nghiệt, cây này còn mang ý nghĩa đem đến sức mạnh cho gia chủ trong đường công danh sự nghiệp đồng thời nó ngăn vận xui không cho vào nhà.

Cây dừa cảnh

Cây dừa cảnh ngày càng được nhiều gia chủ chọn lựa vì muốn thanh lọc không khí giúp bảo vệ sức khỏe cho gia chủ. Dừa cảnh còn đại diện cho sự sung túc, may mắn và những điềm lành trong đường con cháu, công danh sự nghiệp.

Cây bưởi

Bưởi là 1 loại cây không còn quá xa lạ với người Việt, tuy nhiên ít ai biết rằng bưởi lại là loài cây được các đại gia ưa thích. Theo quan niệm, trước cửa nhà mà trồng 1 cây bưởi thì thần Tài sẽ thường xuyên ghé đến và mang tiền tài đổ đầy nhà. Bên cạnh đó, mùi thơm của hương bưởi cũng khiến gia chủ cảm thấy thoải mái mỗi khi về nhà.

  Hà Nội năm 1930 nhìn từ máy bay


Cây tùng

Cây tùng khi đặt trước cửa nhà không chỉ giúp toàn thể vẻ ngoài của ngôi nhà nhìn sang, đẹp và cao cấp hơn mà nó còn giúp thanh lọc không khí thêm phần mát mẻ. Đây là loại cây được trồng nhiều với mục đích cầu mong sức khỏe dồi dào cho gia chủ và các thành viên trong gia đình. Theo phong thủy thì hướng tốt nhất để trông cây tùng chính là hướng Nam.

Nguồn tham khảo: phunutoday

Máy bay điện Cruise

Công ty Mỹ phát triển mẫu máy bay điện có tốc độ 320 km/h với phạm vi bay dài, lên tới 480 km, nhờ cách tiết kiệm năng lượng mới.

Vấn đề lớn nhất đối với máy bay điện Cất hạ cánh thẳng đứng (VTOL) chính là hệ thống VTOL. Dù mang lại rất nhiều lợi ích, VTOL lại tiêu tốn mức năng lượng khổng lồ và đòi hỏi viên pin lớn. Khi chuyển sang bay ngang, các cánh quạt vốn sắp xếp theo chiều dọc cũng tạo thêm lực cản, làm hạn chế quãng đường bay được và vận tốc tối đa.

Công ty Mỹ Talyn Air phát triển mẫu máy bay điện mới mang tên Cruise có thể khắc phục vấn đề về năng lượng, New Atlas hôm 21/3 đưa tin. Cruise hoạt động nhờ Lift – hệ thống VTOL tách rời.

Lift có 8 cánh quạt lớn xếp thành 4 cặp đồng trục. Nó sẽ ghép nối với nóc của Cruise để giúp máy bay này cất cánh thẳng đứng. Sau khi Cruise đạt độ cao và vận tốc cần thiết, Lift sẽ tách ra để máy bay tự bay tiếp. Lift sẽ trở về trạm và sạc pin, bù lại phần năng lượng khổng lồ vừa tiêu thụ.

Máy bay Cruise và hệ thống Lift ghép nối trên không trung. Ảnh: Talyn Air.

Trong khi đó, Cruise có thể tiếp tục chở 5 hành khách đến đích. Máy bay này có phạm vi di chuyển lên tới hơn 480 km, dài hơn nhiều mẫu máy bay điện cất hạ cánh thẳng đứng khác. Tốc độ tối đa của nó là khoảng 320 km/h.

  Hang Reed Flute

Khi hạ cánh, Cruise có thể tiếp đất giống loại máy bay cánh cố định. Còn nếu muốn đáp xuống một sân bay trực thăng, nó sẽ cần ghép nối với một hệ thống Lift khác. Để đuổi theo và ghép nối với máy bay Cruise trên không, phương tiện Lift cũng được trang bị cánh giống tàu lượn và một cặp động cơ đẩy giúp tăng tốc.

Tuy nhiên, mẫu máy bay tách rời hệ thống VTOL này cũng gặp nhiều thách thức, trước hết là công đoạn ghép nối. Mối liên kết giữa hai phương tiện cần đơn giản để ghép nối giữa không trung, đồng thời đủ mạnh để nâng một máy bay chở 5 người lên khỏi mặt đất. Việc chuyển đổi giữa quá trình bay lên thẳng và bay ngang cũng sẽ rất phức tạp.

Thu Thảo (Theo New Atlas)

Ý nghĩa thông số kỹ thuật của Camera giám sát

Camera quan sát, camera an ninh, camera chống trộm… nói chung là thiết bị dùng ghi lại hình ảnh trong phạm vi hoạt động của nó rồi lưu trữ vào hệ thống dữ liệu có thể là đầu ghi, có thể là lưu trên điện toán đám mây hoặc truyền tải hình ảnh trực tiếp đến điện thoại, máy tính của người dùng. Nói về camera quan sát thì có rất nhiều bộ phận vì vậy để hiểu và nắm được sự khác nhau chúng ta phải tìm hiểu một sô thông số kỹ thuật cơ bản sau:

Ý nghĩa các thông số kỹ thuật của Camera quan sát:

–  Auto white balance: Tự động cân bằng ánh sáng trắng đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho camera cân bằng ánh sáng lấy nét và cho hình ảnh rõ nét hơn.

–  Auto Gaint Control (AGC): Chức năng có tác dụng tăng tín hiệu hình ảnh, tăng độ nhạy của cảm biến khi camera đặt trong điều kiện ánh sáng yếu.

–  Backlight Light Compensation (BLC): Bù ánh sáng ngược với kĩ thuật này thì việc lắp đặt ở những nơi thiếu ánh sáng sẽ giúp cho việc hình ảnh của camera quan sát sẽ không bị nhiễu và mờ.

–  Wide Dynamic Range (WDR): Chức năng này làm sáng vùng tối và làm tối vùng sáng điều chỉnh sao cho hình ảnh hiện lên hài hòa.

Tính năng Wide Dynamic Range (WDR)

–  3D – DNR giảm nhiễu kỹ thuật số:

  • Cải thiện tối đa hình ảnh, hộ trợ cho việc nhận diện.
  • Việc chống nhiễu làm giảm giảm kích thước File giúp giảm dung lượng lưu trữ và băng thông
  • Giảm thiểu báo động sai do phát hiện chuyển động
  Hang Sơn Đoòng

3D – DNR

–  Auto electrolic Shutter: Tự động chống sốc điện là một trong những yếu tố giúp cho camera hoạt động ổn định và bền bỉ hơn, thường là những nơi hay mất điện đột ngột và điện áp yếu, những chiếc camera không có chỉ số này rất dễ bị cháy hỏng do điện áp chập chờn.

–  Visible Distance: Khoảng cách quan sát của camera, giúp người dùng chọn lựa sao cho phù hợp với khoảng cách mà mình cần quan sát.

–  Water resistance/ water proof: đây là chỉ số chống chịu nước, với những môi trường đặc biệt như trong nước hay ngoài trời nơi chịu nhiều ảnh hưởng của mưa gió thời tiết, với những chiếc camera lắp đặt ngoài trời nên có chỉ số này sẽ giúp chúng bền bỉ hơn.

–  Auto IRIS: tự động hiệu chỉnh ánh sáng cũng giống như cần bằng ánh sáng giúp lấy hình ảnh rõ ràng hơn.

–  Horizontal TV lines: độ phân giải 320-540 TV lines, số càng lớn thì hình cảnh càng chất lượng, đây là một yếu tố quan trọng nhất để đánh giá về chất lượng hình ảnh của camera.

–  Image sensor: cảm biến hình ( thường có 2 kích thước 1/3” và 1/4 “, kích thước cảm biến hình càng lớn thì cho chất lượng ảnh tốt)

–  Minimum Illumination: cường độ ánh sáng nhỏ nhất ( tính bằng LUX)

Thông số này nói lên rằng, Camera chỉ có thể hoạt động ở cường độ ánh sáng lớn hơn cường độ ánh sáng nhỏ nhất. Trong điều kiện quá tối, nếu không phải là Camera có chức năng hồng ngoại thì sẽ không hoạt động được.

  Hang động Xanh Grotto Azzurra

Ánh nắng mặt trời: 4000 lux

Mây: 1000lux

Ánh sáng đèn tuýp: 500 lux,

Bầu trời có mây: 300lux

Ánh sáng đèn tuýp đỏ 500 lux, trắng (300 lux) trắng sáng 1lux

Đêm không trăng 0.0001 Lux

Xin chú ý đến loại Camera có chức năng Auto Iris (Tự động hiệu chỉnh ánh sáng). Đặc điểm của Camera loại này là chỉ với 1 nguồn sáng nhỏ, nó có thể tự động khuyếch đại nguồn sáng đó lên để có thể quan sát được.

–  Power Supply: Nguồn cung cấp

–  Vandal Proof: chống va đập

–  IR effective Sistance: khoảng cách hoạt động của tia hồng ngoại, để chúng ta biết được khoảng quan sát của camera vào ban đêm.

–  IR (Infrared rays): tia hồng ngoại giúp nhìn rõ vật thể kể cả ban đêm trong điều kiện không có ánh sáng.

–  Ir Led: số lượng đèn hồng ngoại, càng lớn thì hình ảnh ban đêm càng rõ ràng,

–  CCDTotalpixels: số điểm ảnh ( số điểm ảnh lớn -> hình ảnh sắc nét, nhưng sẽ tốn nhiều bộ nhớ do dung lượng ảnh lớn, ảnh hưởng nhiều đến tốc độ đường truyền)

–  Pan/Tilt/Zoom: chức năng quay trái phải/ trên dưới/ phóng to/thu nhỏ.

–  Indoor/outdoor: camera đặt trong nhà hay ngoài trời.

–  Tiêu cự ống kính tương đương góc mở ( quan sát):

2.1mm – 138 độ

2.5mm – 100 độ

2.8mm – 85 độ

3.6mm – 79 độ

4mm – 61 độ

6mm – 46 độ

  Tứ bất tử

8mm – 34 độ

12mm – 22 độ

Đó là những thông số kỹ thuật giúp cho người sử dụng có thể chủ động lựa chọn, so sánh để  loại camera quan sát phù hợp với mục đích sử dụng của mình, hoặc nếu quí khách không nắm rõ các thông thông số để lựa chọn, hãy liên hệ với chúng tôi, chỉ cần quí khách đưa ra nhu cầu và mục đích sử dụng chúng tôi sẽ tư vấn tận tình giúp quí khách chọn lựa được chủng loại Camera phù hợp nhất, kinh tế nhất.

Quán bánh mì không tên hơn 40 tuổi ở Hà Nội

Chỉ với một kiểu bánh mì nhân truyền thống, quán giữ chân thực khách không chỉ bằng vị mà còn sự tận tình của chủ quán.

Theo chủ quán, cụ Phượng là người đầu tiên mở hàng bánh mì từ năm 1979. Hiện chị Linh – con dâu thay cụ tiếp quản.

“Quán được mẹ chồng tôi gây dựng, bà đã rất tâm huyết với nghề. Sau khi bà mất, tôi cố gắng nối nghiệp để gìn giữ thương hiệu gia đình”, chị Linh chia sẻ.

Bánh mì 10.000 đồng

Nằm ở ngã ba Hàng Gai giao với Tô Tịch, quán nép mình trong căn nhà cổ, giữa dãy phố nhộn nhịp. Địa chỉ này tận dụng vỉa hè trước nhà làm nơi phục vụ khách ăn tại chỗ, vỏn vẹn 4-5 chiếc ghế nhựa.

Suốt nhiều năm qua, quán chỉ bán bánh mì với nhân pate, ruốc, xúc xích đỏ, thịt xá xíu, và bơ. Mỗi chiếc thập cẩm chỉ 10.000 đồng.

Bí quyết níu chân thực khách là pate và xúc xích đỏ. Ở đây, pate chỉ sử dụng mỡ phần, thịt ba chỉ, gan lợn, hành phi thái nhỏ đã được rang với mỡ gà, khiến vị lạ và béo ngậy hơn. Xúc xích đỏ được làm từ bì lợn và tạo màu bằng hoa hiên.

Tương ớt của quán cũng là loại đặc biệt được làm theo công thức gia truyền. Bánh mì được lựa chọn từ mối quen phải làm riêng theo yêu cầu của quán.

Trải qua 40 năm, bánh mì Hàng Gai vẫn làm theo công thức gia truyền, không thay đổi, thêm bớt gia vị.

  Hang động Xanh Grotto Azzurra

Mở cửa từ sáng sớm nên từ 3h, chị Linh đã dậy để chuẩn bị nguyên liệu. Pate và xúc xích đỏ được làm từ tối hôm trước.

Khoảng 6h30, khách ghé quán đã vây kín xung quanh. Nhiều phương tiện nối đuôi nhau, kiên nhẫn chờ đợi tới lượt mình.

Đa số trong đó là khách ruột, đã ăn lâu năm. Chị Linh thường gọi những vị khách lớn tuổi là “u”, “bố”. Nhiều khách đến quán không cần gọi món, chị đã thuộc luôn sở thích của họ.

Chị Huyền (33 tuổi, Hàng Hòm) là khách thân thiết của quán bánh mì Hàng Gai từ thời đi học, tính đến nay đã hơn 20 năm. Thứ “giữ chân” chị ở quán là pate và xúc xích đỏ.

“Đến đây, mình thường ăn bánh mì pate, xúc xích. Bánh mì của quán vẫn giữ được hương vị truyền thống. Mình không thích các loại bánh mì hiện đại có nhiều sốt hay các loại nhân khác”, chị Huyền chia sẻ với Zing.

Vỏ bánh mì giòn, thơm. Pate thơm ngậy mùi hành phi đặc biệt. Xúc xích đỏ khá dai. Dù bánh mì luôn được nướng bằng lò nhưng chỉ đủ làm nóng vỏ ngoài, phần nhân bên trong tương đối nguội.

Đặc biệt, ở đây, bánh mì không có rau thơm ăn kèm nên khá khô và nhanh ngán. Nếu là người quen ăn đậm, bạn sẽ thấy phần nhân bánh tương đối nhạt. Tuy nhiên, chủ quán có chuẩn bị thêm muối tiêu để khách vừa miệng hơn.

  Tứ bất tử

“Tôi ăn bánh mì ở đây từ thời bà Phượng còn bán. Khi đó, bánh mì vẫn có giá 2.000-3.000 đồng”, Cụ Khanh (90 tuổi, Nguyễn Siêu) nói. Cụ thường đi bộ lên bờ hồ sau đó ghé quán ăn sáng.

Chưa từng nghĩ sẽ tăng giá bánh mì

Với mức giá 10.000 đồng/chiếc, bánh mì của quán là quà sáng quen thuộc của nhiều tầng lớp, độ tuổi và nghề nghiệp.

“Từ lúc tiếp quản đến nay, cuối năm 2020 đến đầu năm nay là thời điểm quán gặp khó khăn nhất. Giá thịt lợn leo thang làm tôi phải cân bằng chất lượng và giá bán”.

“Thời điểm đó, tôi phải cân nhắc làm sao dù mọi thứ có tăng thì vẫn giữ nguyên 10.000 đồng/chiếc, để khách ăn ngon mà hợp túi tiền”, chị chủ tâm sự.

“Nhiều người cũng thắc mắc tại sao không tăng giá, nhưng bản thân tôi hiểu mình chỉ bán giá bình dân. Nhiều khách quen của quán là người dân lao động, làm việc cực khổ, tôi không nỡ tăng giá”, chị Linh nói.

Một buổi sáng, quán thường bán được 400 chiếc bánh mì. “Nhiều người thường trêu tôi sẽ nhanh giàu. Nhưng đâu có ai biết, giá cả ngày càng tăng. Tôi chỉ lấy công làm lãi”, chị Linh nói.

  Hà Nội năm 1930 nhìn từ máy bay

Khi được hỏi chị vì sao không thêm các loại nhân hay nước sốt khác cho lạ, chị chỉ nhẹ nhàng trả lời: “Hương vị bao nhiêu năm nay vẫn vậy, giờ thêm các loại nhân mới sợ không ngon, khách cũng sẽ không thích. Mọi người đến với quán vì hương vị truyền thống, được khách thường xuyên ủng hộ là vui rồi”.

Từ lúc nối nghiệp, điều khiến chị Linh tự hào nhất là sự uy tín và được khách hàng ủng hộ thường xuyên. Hơn 40 năm với nhiều thăng trầm, quán bánh mì Hàng Gai luôn giữ nguyên sự trọn vẹn, tinh tế trong hương vị.

Đánh giá của thực khách:

Tu Vu Anh: “Bánh mì ngon nhưng khá khô. Quán không bán sữa đậu nên mình chỉ ăn được một chiếc khi ghé quán”.

Đặng Tuấn Anh: “Quán vỉa hè, không có nhiều chỗ nên mình thường mua mang về. Bánh mì vừa miệng, giá rẻ. Quán chủ yếu phục vụ dân phố cổ”.

Huyen Trang Le: “Thời cấp 1, mình thường ăn bánh mì ở đây. Khi ăn mình thường cho thêm muối tiêu để vừa miệng hơn”.

Leo Nguyen: “Đến đây, mình thường gọi 2 chiếc. Nếu quán có thêm rau thơm thì sẽ đỡ ngán”.

Trâm Anh: “Tôi thường đưa con đi học và ghé quán ăn sáng. Bánh mì đáp ứng đúng tiêu chí ngon, bổ, rẻ”.

Quỳnh Anh (Zingnews)