20 C
hanoi
Thứ Hai, Tháng Ba 8, 2021

Kitô giáo (thuật ngữ phiên âm) hay Cơ Đốc giáo (thuật ngữ Hán-Việt) là một trong các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham,[1][2] Abraham là tổ phụ của người Do Thái và người Ả Rập (hai tôn giáo còn lại là Do Thái giáo và Hồi giáo), đặt nền tảng trên giáo huấn, sự chết trên thập tự giá và sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô như được ký thuật trong Kinh thánh Tân Ước.[3] Kitô hữu (Cơ Đốc nhân) tin rằng Giêsu là Con của Thiên Chúa và là Đấng Messiah của người Do Thái như đã được tiên báo trong Kinh thánh Cựu Ước. Thuộc tôn giáo độc thần,[4] hầu hết Kitô hữu tin rằng chỉ có mộtThiên Chúa duy nhất hiện hữu trong ba thân vị (tiếng Hy Lạp: hypostasis) gọi là Ba Ngôi.[5] Kitô giáo bao gồm nhiều truyền thống tôn giáo với các dị biệt văn hóa, cũng như các xác tín và hệ phái khác nhau. Trải qua hai thiên niên kỷ, Kitô giáo tự hình thành nên ba nhánh chính là Công giáo Rôma, Chính thống giáo Đông phương và Tin Lành (còn gọi là Kháng Cách). Tính chung, đây là tôn giáo lớn nhất thế giới với 2,4 tỉ tín hữu, chiếm khoảng 33% dân số thế giới (năm 2015).

Từ “Kitô” xuất phát từ chữ Khristos trong tiếng Hy Lạp, nghĩa là “Đấng được xức dầu”, dịch từ chữ Messiah trong tiếng Hebrew. Từ “Kitô hữu” có nghĩa là “người có Chúa Kitô hiện hữu (ở trong)”, hay “người thuộc về Chúa Kitô”.

Trong tiếng Việt, bên cạnh từ “Kitô” (như Kitô giáo) phiên âm qua tiếng Bồ Đào Nha, và thường được sử dụng bởi tín hữu Công giáo, còn có từ “Cơ Đốc” (như Cơ Đốc giáo) xuất phát từ chữ Nho (基督) và thường được những người theo đạo Tin Lành sử dụng. Trong khi người Công giáo dùng chữ “Kitô” để chỉ Giêsu, người Tin Lành thường dùng chữ “Christ”. Ngoài ra, một số người cũng dùng cách gọi Thiên Chúa giáo để chỉ Công giáo nói riêng và Kitô giáo nói chung.

Lịch sử

Khởi nguyên

Theo Kinh thánh, Thiên Chúa là đấng đã sáng tạo ra vũ trụ, muôn loài trong 6 ngày và ngày thứ 7 Ngài nghỉ ngơi. Ông Adam và bà Eva là tổ phụ của loài người, không nghe lời Thiên Chúa đã ăn trái của “cây biết điều thiện điều ác” (trái cấm) nên bị Thiên Chúa đuổi khỏi Vườn địa đàng. Hai người này truyền tội lỗi (gọi là tội tổ tông, nguyên tội) cho con cháu là loài người. Bởi loài người mang tội, Thiên Chúa đã giáng sinh cứu rỗi loài người để loài người được hòa giải với Thiên Chúa.

Chúa Ki-tô vác thập tự giá, El Greco, 1580

Vậy tâm điểm việc cứu rỗi của Kitô giáo là Chúa Giêsu, do đó trọng tâm của cuộc sống Kitô hữu là niềm xác tín rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa giáng trần, là Đấng Mê-si-a, và làĐức Ki-tô. Danh hiệu “Messiah” có nguồn gốc từ tiếng Hebrew מָשִׁיחַ (māšiáħ), nghĩa là “đấng được xức dầu”, chuyển ngữ sang tiếng Hy Lạp là Χριστός (Khristos).[6]

Kitô hữu tin rằng, là Đấng Messiah, Giêsu được Thiên Chúa xức dầu để tể trị và cứu rỗi nhân loại, Giêsu đến để làm ứng nghiệm lời tiên tri về Đấng Messiah trong Cựu Ước. Trọng tâm của đức tin Kitô giáo là qua sự chết và phục sinh của Giêsu, con người tội lỗi được phục hòa với Thiên Chúa, nhờ đó mà nhận lãnh sự cứu rỗi và lời hứa được hưởng sự sống đời đời.

Trong khi những tranh luận thần học về bản thể của Giêsu vẫn đang tiếp diễn, thì phần lớn Kitô hữu tin rằng Giêsu là Thiên Chúa nhập thể, Chúa Giêsu “là Thiên Chúa và là con người” trong ý nghĩa trọn vẹn của cả hai bản tính. Vì Chúa Giêsu là người nên phải trải qua những đau khổ và bị cám dỗ như con người bình thường, nhưng không hề phạm tội. Vì là Thiên Chúa, Chúa Giêsu đánh bại quyền lực sự chết và sống lại từ kẻ chết. Theo Kinh Thánh, Thiên Chúa đã cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết,[7] đặt Chúa Giêsu ngồi bên hữu của Chúa Cha và Ngài sẽ trở lại để làm ứng nghiệm lời tiên tri về Đấng Messiah như sự phục sinh, sự phán xét sau cùng và sự thiết lập Vương quốc của Thiên Chúa.

Kitô giáo được biết đến từ thế kỷ thứ nhất khi các môn đồ của Chúa Giêsu được gọi là Kitô hữu tại thành Antiochia (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), nơi họ đến để lánh nạn và định cư sau những cuộc bức hại đầu tiên tại xứ Judea. Nền thần học của Kitô giáo sơ khai được thành lập và truyền bá bởi sứ đồ Phaolô và các sứ đồ khác.

Theo Tân Ước, Chúa Giêsu tự xưng mình là Đấng Messiah mà dân Do Thái vẫn hằng mong đợi, nhưng đã bị nhóm lãnh đạo Tôn giáo và Dân sự cũng như dân chúng chối từ và bị xem như là chống lại Đền thờ và luật lệ thời đó. Ngài cũng bị buộc tội phạm thượng do dám gọi Thiên Chúa là Cha và bị kết án tử hình bởi chính quyền La Mã vào năm 30. Tuy nhiên Giêsu được Pontius Pilatus, tổng trấn người La Mã, gọi là “Vua của dân Do Thái”.

Theo các sách Phúc âm, người La Mã buộc tội Giêsu vì muốn xoa dịu sự bất bình của giới cầm quyền Do Thái, nhưng một số học giả cho rằng đó là cách mà Đế chế La Mã trừng phạt những người chống đối họ. Kitô hữu tin rằng Cựu Ước đã tiên báo cái chết và sự sỉ nhục mà Giêsu phải chịu như đã chép trong Tân Ước. Sách Isaiah ngụ ý rằng Giêsu bị vả, nhổ, đấm vào mặt (Isaiah 50.6, 52.14-15; Matthew. 26.67-68; Mark 14.65), bị đánh bằng roi (Isaiah 53.5; John 19.1; Matthew 27.26) cũng như bị sỉ nhục.

Kitô hữu xem sự phục sinh của Giêsu là nền tảng của đức tin và là biến cố quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại.[8] Theo Tân Ước, Giêsu là tâm điểm của Kitô giáo, bị đóng đinh trên thập tự giá, chết và chôn trong mộ, đến ngày thứ ba thì sống lại.[9] Theo ký thuật của Tân Ước, sau khi sống lại, Giêsu, trong những lần khác nhau tại những địa điểm khác nhau, đã đến gặp mười một sứ đồ và các môn đồ, trong đó có lần xuất hiện trước sự chứng kiến của “hơn năm trăm người”,[10] sau đó thì về trời.

Các sứ đồ của Giêsu là nhân chứng về cuộc đời, lời giảng và sự sống lại của Giêsu. Ngoài ra còn có nhiều môn đồ (đến 70 người) trong đó có Giacôbê, Máccô,Luca, Maria Mađalêna…, những người này theo Giêsu trong các cuộc hành trình và họ chứng kiến khi Giêsu giảng dạy và làm nhiều phép lạ. Sau khi Giêsu bị đóng đinh, các sứ đồ và các môn đệ khác công bố rằng Giêsu đã sống lại từ cõi chết và họ khởi sự rao giảng thông điệp mới. Các sứ đồ và môn đệ này đã viết các sách Phúc âm và các Thư tín.

Sứ đồ Phaolô viết thư tín.

Trong số 27 sách của Tân Ước, nhiều quyển được viết bởi Phaolô. Ông là tác giả của mười bốn thư tín và một số truyền thuyết cho rằng ông cũng là tác giả của Thư gửi tín hữu Do Thái. Phúc âm Luca và sách Sách Công vụ Tông đồđược viết bởi Luca, người chịu ảnh hưởng trực tiếp của Phaolô. Phaolô là môn đồ của Gamaliel (Cv 22.3), một nhân vật có thanh thế trong toà công luận (Cv 5.34-40). Phaolô được xem như là nhà truyền giáo quan trọng nhất rao giảng thông điệp Kitô cho thế giới bên ngoài.

Hội thánh sơ khai

Kitô giáo lan truyền nhanh trong suốt ba thế kỷ tương đối an bình của Đế quốc La Mã:

  • thông qua Ai Cập đến Libya, Sudan và Ethiopia
  • thông qua Syria tới vùng Lưỡng Hà, Ba Tư và Ấn Độ
  • thông qua Hy Lạp và La Mã đến các vùng khác của Âu châu

Vào thuở Kitô giáo sơ khởi, một tín hữu có thể vẽ một cung trên đất khi gặp một người khác, nếu chia sẻ cùng niềm tin, người này sẽ vẽ tiếp một cung nữa để hoàn chỉnh hình con cá (Ichthys), một biểu trưng của Kitô giáo.

Vào thời kỳ ban đầu, Hội thánh bao gồm hai cộng đồng: Do Thái và Hy Lạp. Trong khi cộng đồng Do Thái, phần đông là các tín hữu gốc Do Thái, muốn duy trì một số tập tục và nghi thức của Do Thái giáo (Judaism) như phép cắt bì và một số kiêng cữ khác thì cộng đồng Hy Lạp, những người chịu ảnh hưởng từ thế giới nói tiếng Hy Lạp, tin rằng thông điệp của Kitô giáo nên được truyền bá theo các phương pháp thích hợp hơn với thế giới Hellenistic bên ngoài.

Một trong những nhà trước tác quan trọng đầu tiên của Kitô giáo, Tertullianus, đã viết cho một quan tổng đốc Đế chế La Mãvề sự phát triển của Kitô giáo tại Carthago rằng mới hôm qua họ chỉ là một nhóm nhỏ, “nay có mặt khắp mọi nơi – các đô thị, hải đảo, trong thành lũy, thị trấn, chợ, ngay cả trong trại lính, tại các bộ tộc, lâu đài, nghị viện; chúng tôi chẳng để lại gì cho quý vị ngoại trừ các nơi thờ phụng các thần linh của quý vị mà thôi.” (Bài biện giáo viết tại Carthago, năm 197).

Trong vòng vài thế kỷ đầu tiên, các giáo phụ, là các nhà thần học và triết học khoa bảng, như Justinus, Origenes vàAugustinus đã phát triển nền thần học và triết học Kitô giáo.

Suốt thời kỳ này, trong khi đang phát triển mạnh mẽ, Hội thánh cũng phải trải qua các cơn bách hại. Ngay từ những ngày đầu tiên, Kitô giáo là mục tiêu của những sự bách hại, dẫn đến sự tử đạo của Stêphanô[11] và Giacôbê, con của Zêbêđê.[12] Những đợt bách hại ở quy mô lớn hơn, dù không thường xuyên nhưng dữ dội, xảy ra dưới thời trị vì của các hoàng đế La Mã như Nero, Valerianus, Diocletianus và Galerius. Cuộc đời của những người tử đạo, thà chết chứ không chối bỏ đức tin, trở nên biểu trưng cho đức hạnh cao quý nhất. Các bản dịch Kinh Thánh sớm nhất bắt đầu xuất hiện, danh sách quy điểnTân Ước được đồng thuận. Hệ thống phẩm trật được củng cố: các giám mục thành Roma, Alexandria và Antiochia đều được công nhận danh hiệu Trưởng phụ.

Tượng Constantinus Đại đế tạiYork, Anh, gần địa điểm ông được tôn xưng hoàng đế năm 306.

Hoàng đế La Mã Galerius, trước khi chết, ban chiếu chỉ Galerius ngưng mọi hoạt động bách hại. Hoàng đế Constantinus Iquy đạo năm 312 và một năm sau đó ban hành chiếu chỉ Milano hợp pháp hóa Kitô giáo. Dù vậy, các cuộc bách hại được tái lập dưới triều Julianus Kẻ bội giáo (361-363), người muốn phục hồi cựu giáo trên lãnh thổ đế quốc. Tuy nhiên, vào năm 380dưới triều hoàng đế Theodosius I, Kitô giáo được công nhận làm quốc giáo với chiếu chỉ Thessalonica. Trước đó, điều tương tự đã xảy ra tại các xứ láng giềng Armenia và Gruzia, cũng như tại Ethiopia. Nhưng tại Đế quốc Ba Tư vốn luôn đối nghịch với Đế quốc La Mã, Kitô hữu phải chịu nhiều áp bức từ Nhà Sassanid muốn củng cố lại địa vị của Hỏa giáo.

Tại Đế quốc Ba Tư, vào năm 410 giám mục thành Seleucia-Ctesiphon miền Assyria đã thay thế Thượng phụ thành Antiochia để giữ thẩm quyền cao nhất trong Giáo hội Phương Đông (Cảnh giáo). Trong thời kỳ ly giáo Nestorian, giáo hội này cắt đứt quan hệ với phương Tây. Trong suốt một thiên niên kỷ đã trở thành giáo hội có nhiều ảnh hưởng tại châu Á với các giáo phận được thành lập tại những nơi xa xôi như Trung Á, Ấn Độ, Java và Trung Hoa.

Các giáo hội quốc gia

Martin Luther năm 1529, tranh của Lucas Cranach

Cải cách Tin Lành
95Thesen.jpg

Sự khẳng định thần tính của Giêsu luôn là vấn đề trọng tâm đối với Kitô hữu thời sơ khai. Nhiều nhà trước tác, bao gồm Justinus Tử đạo và Tertullianus chứng thực niềm tin Giêsu là Thiên Chúa,[13][14][15][16][17] trong khi một số các nhóm Kitô giáo khác từ chối chia sẻ niềm xác tín này. Sự việc lên đến đỉnh điểm khi Arius thuyết phục được khá đông các giám mục và tín hữu tin rằng Giêsu chỉ là một tạo vật, dù là tạo vật đầu tiên và cao trọng nhất. Cuộc tranh luận được giải quyết tại Công đồng Nicaea, được triệu tập bởi hoàng đếConstantinus I, nơi học thuyết của Athanasius, một học giả theo thuyết Ba Ngôi, được công nhận là giáo lý chính thức của Hội thánh (xem tín điều Nicaea, tín điều Athanasius). Dù Constantinus I ra lệnh đốt sách của Arius và trục xuất ông, học thuyết của ông vẫn tiếp tục phát triển trong đế quốc suốt vài thập niên và trong vòng các bộ tộc người Goth trong gần hai thế kỷ sau đó.

Các công đồng vẫn tiếp tục được triệu tập để giải quyết các vấn đề thần học. Trong khi các công đồng bàn luận nhằm hợp nhất Kitô giáo thì các hoàng đế ủng hộ các công đồng nhằm bảo vệ sự ổn định chính trị. Một số thuật ngữ thần học được sử dụng tại các công đồng đã bị hiểu nhầm bởi các giáo hội mà ngôn ngữ chính là tiếng Syriac, tiếng Copt hay tiếng Armenia, làm tăng thêm khác biệt và dẫn đến các cuộc ly giáo giúp hình thành các giáo hội quốc gia mà sau này được gọi chung là Chính thống giáo Cựu Đông phương.

Vào thiên niên kỷ thứ hai, Kitô giáo phát triển đến hầu hết thế giới phương Tây, Trung Đông, các vùng Châu Phi và bắt đầu tiếp cận vùng Viễn Đông. Dù vẫn nảy sinh một số bất đồng về thần học và đều được giải quyết tại các công đồng, Kitô giáo đã duy trì được sự đồng thuận về các giáo lý nền tảng trong suốt thời kỳ này. Tuy nhiên, trong thiên niên kỷ sau, các bất đồng về thần học và sống đạo ngày càng trở nên trầm trọng. Cuộc Đại Ly giáo năm 1054 chia cắt Giáo hội thành hai nửa Tây phương và Đông phương. Trong khi giáo hội Tây phương với tên gọi Công giáo Rôma dần dần củng cố quyền lực tập trung vào Rôma thì giáo hội Đông phương với danh xưng “Chính thống” cam kết bảo tồn các truyền thống và đề kháng với mọi thay đổi. Cho đến nay Chính thống giáo Đông phương vẫn duy trì lập trường không đặt giáo hội dưới quyền cai trị của một giám mục duy nhất. Giáo hội Đông phương công nhậnThượng phụ thành Constantinopolis là “người đứng đầu nhưng bình đẳng” với các giám mục khác đang cai quản các giáo hội tự trị trong gia đình Chính thống giáo.[18]

  Nhiên Đăng Cổ Phật

Tại Âu châu, chịu ảnh hưởng từ Cuộc Cải cách Kháng nghị (Protestant Reformation) vào thế kỷ 16 nhiều giáo hội đã từ chối thần phục Tòa Thánh vì họ cho rằng có sự lạm dụng trong cơ cấu quyền lực được tập trung vào ngai Giáo hoàng cũng như bên trong cấu trúc quyền lực này đã nảy sinh nhiều sai lạc về thần học và sống đạo.[19] Các vấn đề mấu chốt trong cuộc tranh luận đã được tóm tắt trong năm mệnh đề sola nổi tiếng (xem Năm Tín lý Duy nhất):

  • Sola scriptura: Duy Thánh Kinh – thẩm quyền của giáo hội chỉ dựa trên Kinh Thánh được giải thích cách đúng đắn và chuẩn xác chứ không được tách rời khỏiKinh Thánh[20]
  • Sola fide: Duy đức tin – con người được cứu rỗi chỉ bởi tin Đấng Christ (Chúa Kitô) chứ không phải bởi công đức hay là nhờ giáo hội và các thánh lễ
  • Sola gratia: Duy ân điển – Sự cứu rỗi được ban cho từ Thiên Chúa, bởi ân sủng của Ngài, con người không thể làm gì để được cứu
  • Solus Christus: Duy Chúa Kitô – Chúa Giêsu là đấng trung bảo duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người chứ không phải là giáo hội hay các chức sắc
  • Soli Deo gloria: Vinh hiển chỉ dành cho Thiên Chúa – mọi vinh hiển vì sự cứu rỗi nhân loại chỉ dành cho một mình Thiên Chúa chứ không phải giáo hội hay các chức sắc.

Từ cuộc cải cách khởi phát một cuộc tranh chấp dữ dội nhằm thu phục người dân Âu châu. Các cuộc tranh luận giữa người Công giáo và người Kháng Cách dẫn đến những cơn bách hại cũng như các cuộc chiến, kể cả các cuộc nội chiến.

Đức tin Công giáo và Kháng Cách đặt chân đến Bắc Mỹ (và sau đó là Châu Úc) bởi các di dân đến từ Châu Âu.

Không theo mô hình trung ương tập quyền như người Công giáo, cũng không tổ chức bộ máy giáo hội trên quy mô quốc gia, các tín hữu Kháng Cách tập trung trong hàng trăm, và sau này hàng ngàn giáo phái (denomination) độc lập với nhau. Đức tin Công giáo và Kháng Cách cũng đến Nam Mỹ và Châu Phi cùng lúc với người Âu châu đi chiếm thuộc địa, đặc biệt là từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19. Vào thế kỷ 18 Chính thống giáo du nhập vào vùng Alaska thuộc Bắc Mỹ qua các di dân đến từ Nga, về sau, vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, số lượng di dân người Nga còn đông hơn nhiều.

Bắt đầu từ thế kỷ 19, nhiều quốc gia chịu ảnh hưởng Kitô giáo, đặc biệt tại Tây Âu, ngày càng trở nên thế tục.

 Anh giáo  Anh Quốc, Mỹ Ănglê
Cải cách Tin Lành (thế kỷ 16)  
   Tin Lành  Bắc Âu, Tây Âu, Bắc Mỹ
 
 Công giáo Rôma Công giáo Latinh  Nam Âu, Tây Âu, Mỹ Latinh
Hiệp thông
 Kitô giáo sơ khởi Ly giáo Đông-Tây (1054)   Công giáo Đông phương  Trung Đông, Đông Âu
Công đồng Ephesus
(431)
  Công đồng Chalcedon
(451)
   
     Chính thống giáo Đông phương  Đông Âu, Hy Lạp, Nga, Gruzia, Trung Đông
   
   Chính thống giáo Cựu Đông phương  Armenia, Syria, Ai Cập, Ethiopia
 
 Cảnh giáo (Giáo hội Ba Tư)  Lưỡng Hà, Ba Tư

Kitô giáo ngày nay

Một số Kitô hữu nổi tiếng

Kitô giáo là tôn giáo có đông tín hữu nhất, với những con số ước tính từ 1,5 tỉ đến 2,1 tỉ người[21] xưng nhận niềm tin Kitô giáo trong thập niên 1990. Theo Pew Research Center, vào năm 2010, Kitô giáo có khoảng 2,2 tỉ tín hữu (chiếm 32% tổng dân số thế giới), theo sau là Hồi giáo với 1,6 tỉ (23%); Ấn Độ giáo có 1 tỉ (15%); Phật giáo có gần 500 triệu (7%); có hơn 400 triệu người (6%) theo các tín ngưỡng dân gian hay bản địa; trong khi những người không tôn giáo có khoảng 1,1 tỉ (16%).[22]

Kitô giáo chia ra nhiều nhánh, bao gồm hơn 1,1 tỉ người Công giáo,[23] khoảng 800 triệu người theo các hệ phái Tin Lành (trong đó có 85 triệu tín hữu Anh giáo), 300 triệu người Chính thống giáo, và những giáo hội “ngoại vi” (Nhân chứng Jehovah, Giáo hội Cơ Đốc Phục lâm An thất nhật, Giáo hội Mormon…) có hơn 40 triệu tín hữu. Các giáo phái này tự nhận mình thuộc Kitô giáo nhưng họ không được công nhận bởi cộng đồng Kitô giáo vì cớ các học thuyết không chính thống của họ.

Tuy Kitô giáo là tôn giáo lớn nhất thế giới[24] và đang duy trì bộ máy truyền giáo khổng lồ, lại không đạt được mức tăng trưởng như các tôn giáo khác cũng như không theo kịp tốc độ gia tăng dân số thế giới. Trong khi dân số toàn cầu tăng 1,25% mỗi năm thì mức tăng trưởng của Kitô giáo chỉ khoảng 1,12%.

Không phải mọi người xưng nhận mình là Kitô hữu (Cơ Đốc nhân) đều chấp nhận tất cả, hoặc ngay cả hầu hết, các quan điểm thần học của giáo hội của họ. Giống như người Do Thái giáo, Kitô hữu phương Tây chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Phong trào Khai sáng (Enlightenment) từ cuối thế kỷ 17 tới thế kỷ 18. Có lẽ sự thay đổi quan trọng nhất đối với họ là nguyên tắc phân ly giữa giáo hội và nhà nước, chấm dứt những ưu đãi tôn giáo được nhà nước bảo hộ đã hiện hữu lâu đời tại nhiều nước Âu châu. Ngày nay một người, như là một công dân tự do, có quyền bất đồng với giáo hội của mình về các vấn đề khác nhau và có quyền rời bỏ giáo hội tuỳ thích. Trong thực tế, nhiều người đã bỏ giáo hội và phát triển các hệ thống triết lý tôn giáo khác như Thần giáo tự nhiên (Deism), Nhất vị thần giáo (Unitarianism), hoặc chọn lựa trở nên vô thần (atheist), bất khả tri (agnostic), hay là nhân bản chủ nghĩa (humanist). Một số người ở lại giáo hội đề xuất chủ nghĩa tự do (liberalism) bên trong nền thần học Kháng Cách. Còn trong Giáo hội Công giáo, chủ nghĩa tân thời (modernism) xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 khuyến khích các quan điểm và hình thức trình bày mới không theo truyền thống giáo hội.

Tại Hoa Kỳ và Châu Âu, trào lưu thần học tự do góp phần phát triền tinh thần thế tục trong toàn xã hội. Nhiều Kitô hữu ngưng thực hành các bổn phận tôn giáo, mỗi năm chỉ đến nhà thờ vài lần vào những dịp lễ hội, hoặc hoàn toàn không bước chân vào nhà thờ. Nhiều người trong số họ vẫn nhắc đến lòng sùng đạo của ông bà, nhưng họ lớn lên trong những gia đình, nơi mà các giá trị Kitô giáo không còn được xem trọng. Bên trong họ là một tình cảm pha trộn đối với đức tin Kitô Giáo. Một mặt họ tiếp tục buộc mình vào các giá trị cổ truyền vì lý do bản sắc, mặt khác ảnh hưởng của tinh thần thế tục phương Tây, áp lực từ cuộc sống hằng ngày và từ những người xung quanh bứt giật họ ra khỏi ảnh hưởng còn sót lại của Kitô giáo truyền thống. Hôn nhân giữa Kitô hữu và người không phải Kitô hữu, từng là điều cấm kỵ, nay đã trở nên phổ biến. Tại một số quốc gia có truyền thống Công giáo, nhiều người trở nên theo thuyết bất khả tri.[25]

Kitô giáo theo tỷ lệ dân số.

Vào đầu thế kỷ 20, trào lưu tự do phát triển mạnh tại Âu châu và Bắc Mỹ, đến thập niên 1960, kiểm soát nhiều giáo phái chính lưu (mainline) tại Hoa Kỳ vàCanada. Dù vậy, ngày nay trào lưu này đã thoái trào. Vào đầu thế kỷ 21, tuy thế giới thế tục, đặc biệt là các phương tiện truyền thông vẫn xem các nhà thần học tự do như là đại biểu và phát ngôn viên cho Kitô giáo, các nhà thờ theo khuynh hướng tự do đang thu hẹp dần. Một phần là do những nỗ lực của khuynh hướng Phúc âm, phần khác là vì nhiều người trong số họ đang trở lại với các giá trị Kitô giáo truyền thống.

Một vấn nạn của Kitô giáo là họ đánh mất khả năng chuyển giao các giá trị Kitô giáo cho thế hệ kế tiếp. Trong khi các giáo phái chính lưu tại Hoa Kỳ, ngoại trừBaptist Nam phương (Southern Baptist), đang thoái trào thì các định chế tôn giáo theo khuynh hướng Phúc âm (Evangelical) đang phát triển mạnh, đặc biệt là vào hạ bán thế kỷ 20. Tạp chí Christian Century (Thế kỷ Kitô giáo) có khuynh hướng tự do đang thu hẹp dần để bị thay thế bởi đối thủ đang lớn mạnh có khuynh hướng phúc âm là tạp chí Christianity Today (Kitô giáo Ngày nay). Tại phương Đông Phong trào Khai sáng không tạo lập được nhiều ảnh hưởng. Đối diện với nhiều áp lực từ các xã hội thế tục, giáo hội phải bám trụ vào các xác tín truyền thống để tồn tại, dù vậy, số lượng tín hữu cứ hao mòn dần.

Ngày nay, tại Đông Âu và Nga, đang diễn ra tiến trình hồi sinh. Sau nhiều thập kỷ hưng thịnh của thuyết vô thần, nhiều người bắt đầu quan tâm đến Kitô giáo cũng như các tôn giáo khác. Nhiều nhà thờ và tu viện Chính thống giáo được trùng tu và được lấp đầy bởi các tín hữu và tu sĩ. Các giáo phái Kháng Cách cũng tìm đến để truyền bá Phúc âm và thành lập giáo hội. Giáo hội Công giáo tiết lộ họ đã từng có các giáo phận bí mật và nay đang tiến hành các bước nhằm công khai hỗ trợ các nhà thờ tại đây.

Tại Nam Mỹ và Châu Phi, các giáo phái Phúc âm (Evangelical) và Ngũ tuần (Pentecostal) đang tăng trưởng mạnh và bắt đầu gởi các nhà truyền giáo đến Châu Âuvà Bắc Mỹ. Tình trạng tương tự cũng đang xảy ra tại một số nước châu Á.

Bên trong nhà thờ Crystal Cathedral, từng là một đại giáo đoàn tiêu biểu

Hạ bán thế kỷ 20 chứng kiến chủ nghĩa tân thời phát triển thành chủ nghĩa tiêu dùng (consumerism). Xảy ra cùng lúc nhưng theo hướng ngược lại là sự phát triển của hiện tượng Đại Giáo đoàn (Megachurch) – tập chú vào tính linh động của các phương pháp trình bày thông điệp Kitô cho người đương thời. Giáo trình Alpha (Alpha Course) là một điển hình cho trào lưu mới này của Kitô giáo.

Một phong trào có ảnh hưởng lớn và đang phát triển mạnh, đặc biệt ở phương Tây và Hoa Kỳ là phong trào Tin lànhhay chủ nghĩa Phúc âm. Họ có mặt và hoạt động tích cực trong hầu hết các giáo phái Kháng Cách, trong một số trường hợp họ là thành phần đa số. Những người Phúc âm thường chủ trương “xuyên giáo phái”, họ thích tạo lập các mối quan hệ chính thức hoặc không chính thức với những người Phúc âm trong các giáo phái khác hơn là quan hệ với những người không Phúc âm trong vòng giáo phái của họ. Tín hữu Phúc âm nhấn mạnh đến sự cần thiết phải có kinh nghiệm quy đạo của mỗi cá nhân và tin Chúa Giêsu là Cứu Chúa và Thiên Chúa. Họ tin vào sự tái lâm của Chúa Kitô, tính chân xác của Thánh Kinh và tin vào phép mầu.

Giáo lý

Kitô hữu xem Kitô giáo là sự kế thừa và hoàn chỉnh của Do Thái giáo.[26][27] Kitô giáo mang theo mình nhiều điều từ thần học và lễ nghi của Do Thái giáo như thuyết độc thần, niềm tin vào Đấng Messiah cùng với một vài hình thức thờ phụng như cầu nguyện, xướng đọc Kinh Thánh, chức vị tư tế (dù hầu hết người Kháng Cách tin rằng chức vị tư tế được ban cho tất cả tín hữu), và ý tưởng cho rằng sự thờ phụng trên đất là “hình bóng” cho sự thờ phụng trên thiên đàng.

Những xác tín căn cốt của Kitô giáo tập chú vào sự nhập thể làm người, sự đền tội cho nhân loại, sự chết trên thập tự giá và sự sống lại của Chúa Giêsu để cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết.[28] Nhiều Kitô hữu tin rằng sự tuyển chọn mà Thiên Chúa dành cho dân Do Thái được ứng nghiệm trọn vẹn qua Chúa Giêsu: người Do Thái nào không chấp nhận Chúa Giêsu không còn là người được chọn vì họ đã khước từ Ngài như là Đấng Messiah và Con Thiên Chúa. Quan điểm này đang được làm giảm nhẹ hay ngay cả loại trừ tại một số giáo hội nơi người Do Thái được thừa nhận là có một địa vị đặc biệt vì cớ giao ước của Thiên Chúa dành cho dân tộc này.

Bài giảng trên núi, tranh của Carl Heinrich Bloch, thế kỷ 19.

Trọng tâm của Kitô giáo đặt vào yếu tố Thiên Chúa sai Con Một của mình đến thế gian để cứu nhân loại, tạo ra sự khác biệt lớn lao giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác, vì các tôn giáo ấy thường nhấn mạnh đến vai trò của con người tự nỗ lực cho sự cứu độ của bản thân mình.

Nền thần học được xác lập vững chắc từ ban đầu và được chấp nhận rộng rãi giữa ba nhánh chính của Kitô giáo -Công giáo, Chính thống giáo và Kháng Cách – khẳng định những xác tín căn bản của Kitô giáo bao gồm:

  • Thiên Chúa là Ba Ngôi hằng có đời đời, là thực thể vĩnh cửu duy nhất, hiện hữu trong ba thân vị: Chúa Cha,Chúa Con (Ngôi Lời trở thành xác thịt là Chúa Giêsu Kitô) và Chúa Thánh Linh.[17]
  • Chúa Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là người, cả hai bản tính đều trọn vẹn trong Ngài.
  • Maria (Ma-ri-a hay Ma-ri), mẹ của Chúa Giêsu, người cưu mang và sinh hạ Con Thiên Chúa, Đấng vô hạn và vĩnh cửu đã được hình thành trong thân thể của bà bởi quyền năng siêu nhiên của Chúa Thánh Linh. Ngài nhận lãnh từ Maria trí tuệ và ý chí con người và mọi điều khác như một đứa trẻ bình thường nhận lãnh từ mẹ mình.
  • Chúa Giêsu là Đấng Messiah mà người Do Thái vẫn hằng mong đợi, là Đấng kế thừa ngai Vua David. Ngài ngự bên hữu Chúa Cha để trị vì với tất cả quyền bính vĩnh cửu.[29] Ngài là niềm hi vọng, là Đấng biện hộ và là Đấng phán xét toàn thể nhân loại. Hội thánh có thẩm quyền và bổn phận rao giảng Phúc âm trên khắp thế giới.
  • Chúa Giêsu không bao giờ phạm tội. Qua cái chết và sự sống lại của Ngài, tín hữu được tha thứ tội lỗi và được hoà giải với Thiên Chúa. Tín hữu chịu lễ báp têm (rửa tội) như là biểu tượng cho sự cùng chết và cùng sống lại với Chúa Kitô để nhận lãnh sự sống mới. Qua đức tin, họ nhận lãnh lời hứa sẽ sống lại từ kẻ chết để được sống đời đời. Trong danh của Chúa Kitô, Chúa Thánh Linh ngự vào lòng tín hữu, ban cho họ hi vọng, dẫn họ vào sự hiểu biết chân xác về Thiên Chúa và ý chỉ của Ngài cũng như giúp họ tăng trưởng trong đời sống thánh khiết.
  • Chúa Giêsu sẽ trở lại[30] để phán xét toàn thể nhân loại, để tiếp rước những người tin Ngài vào cuộc sống vĩnh cửu kề cận Thiên Chúa.
  • Nhiều Kitô hữu xem Kinh Thánh là “lời của Thiên Chúa”.[31][32][33] Thuật từ này cũng có thể đề cập đến Chúa Giêsu là “Ngôi Lời của Thiên Chúa”. Nhiều tín hữu cũng nhìn nhận Kinh Thánh là quyển sách có thẩm quyền, được soi dẫn bởi Chúa Thánh Linh nhưng được viết bởi con người. Vì các quan điểm khác biệt về sựlinh hứng của Kinh Thánh mà nhiều Kitô hữu bất đồng với nhau về mức độ chân xác cũng như về phương cách giải thích Kinh Thánh.
  Bước đầu tìm hiểu về sự ra đời và phát triển dòng tu đạo Công giáo

Đức tin Kitô giáo được đúc kết trong các tín điều, quan trọng nhất là Tín điều Các Sứ đồ và Tín điều Nicaea. Các bản tín điều này được hình thành trong vòng vài thế kỷ sau công nguyên nhằm phản bác các học thuyết dị giáo. Dù vẫn còn tranh luận về vài điểm khác nhau của các bản tín điều, chúng được dùng rộng rãi để bày tỏ các xác tín căn bản của nhiều Kitô hữu.

Văn hóa

Nhà thờ Cẩm thạch tại Copenhagen.
Nguyện đường của Exeter College, Viện Đại học Oxford.
Kitô giáo đóng vai trò nổi bật trong việc định hình nền văn minh phương Tây.[34][35][36]

Văn hóa phương Tây trải qua lịch sử đã hầu như tương đương với văn hóa Kitô giáo. Các ý niệm về “châu Âu” và “Thế giới phương Tây” được liên hệ mật thiết với “Kitô giáo và Thế giới Kitô giáo”, nhiều người thậm chí còn coi Kitô giáo là mối liên kết tạo nên một căn tính Âu châu thống nhất.[37] Mặc dù văn hóa phương Tây trong thời kỳ đầu bao gồm một số tôn giáo đa thần dưới các đế quốc Hy Lạp và La Mã nhưng khi chính quyền trung ương La Mã suy yếu, vị thế của Giáo hội Công giáo là định chế kiên vững duy nhất tại châu Âu.[38] Trong tình trạng bất ổn khi đế quốc dần suy tàn, các tu việnxuất hiện kịp thời đã bảo tồn ngôn ngữ viết và một phần truyền thống cổ điển.[39] Cho tới Thời kỳ Khai minh,[40] văn hóa Kitô giáo đã dẫn dắt triết học, văn học, nghệ thuật, âm nhạc và khoa học.[38][41] Cách riêng, Kitô giáo sau này đã phát triển các chuyên ngành tương ứng của mình.

Kitô giáo có một ảnh hưởng quan trọng lên giáo dục, khoa học và y học khi mà giáo hội đã tạo dựng nên các nền tảng của hệ thống giáo dục phương Tây,[42] cùng với đó Kitô giáo là nhà bảo trợ cho việc hình thành các đại học trong thế giới phương Tây khi mà viện đại học thường được xem là một thể chế có nguồn gốc Kitô giáo thời Trung cổ.[43][44] Nhiều giáo sĩ xuyên suốt dòng lịch sử đã có các cống hiến quan trọng cho khoa học, đặc biệt là các tu sĩ Dòng Tên có nhiều đóng góp đáng kể vào sự phát triển của khoa học.[45][46][47] Ảnh hưởng của Kitô giáo lên nền văn minh có thể kể đến phúc lợi xã hội,[48] thành lập các bệnh viện,[49] kinh tế (như đạo đức lao động Tin Lành),[50][51] chính trị,[52] kiến trúc,[53] văn học[54]và đời sống gia đình.[55]

Các Kitô hữu Đông phương, nhất là tín hữu Cảnh giáo, đã đóng góp cho nền văn minh Hồi giáo Ả Rập dưới các triều đạiNhà Ummayad và Nhà Abbas với việc dịch tác phẩm của các triết gia Hy Lạp cổ đại sang tiếng Syriac và sau đó là tiếng Ả Rập.[56][57][58] Họ cũng là những nhân vật ưu tú trong triết học, khoa học, thần học và y học.[59][60]

Các Kitô hữu có rất nhiều đóng góp trong phạm vi rộng lớn và đa dạng các lĩnh vực, gồm khoa học, nghệ thuật, chính trị, văn học và kinh doanh.[61] Theo 100 Years of Nobel Prizes, xem xét các giải Nobel được trao trong giai đoạn từ 1901 tới 2000 cho thấy rằng có 65,4% Khôi nguyên Nobel xác định tôn giáo của mình là Kitô giáo thuộc các hệ phái.[62]

Hậu Kitô giáo là thuật ngữ dùng để chỉ sự suy giảm của Kitô giáo trong thế kỷ 20 và 21, đặc biệt là tại châu Âu, Canada,Úc và ở mức độ ít hơn tại các nước Viễn Nam của châu Mỹ, có liên quan tới thuật ngữ chủ nghĩa hậu hiện đại. Nó đề cập đến việc Kitô giáo mất vị trí độc tôn trong các giá trị và thế giới quan so với các xã hội Kitô giáo trước đây.

Các Kitô hữu văn hóa là những người thế tục có di sản Kitô giáo, có thể không tin theo các giáo lý nhưng còn duy trì thiện cảm với văn hóa đại chúng, nghệ thuật và âm nhạc Kitô giáo nên vẫn còn mối liên hệ. Thuật ngữ này còn dùng trong việc phân biệt các nhóm chính trị trong khu vực đa tôn giáo.

Giê-su

Giêsu (có thể viết khác là Giê-su, Giê-xu, Yêsu, Jesus, Gia-tô, Da-tô[5]), cũng được gọi là Giêsu Kitô, Jesus Christ, hay Gia-tô Cơ-đốc, là người sáng lập ra Kitô giáo. Giêsu là người Do Thái có tên là Yehoshua (יהושע – có nghĩa là “Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ” trong tiếng Hebrew), thường được gọi vắn tắt là Yeshua (ישוע). Đối với người đương thời, Giêsu còn được biết dưới tên Giêsu thành Nazareth, hoặc Giêsu con ông Giuse. Từ “Kitô” (tiếng Latinh: Christus; tiếng Hy Lạp: Χριστός Khristós hoặc từ “Cơ Đốc”, chữ Nho: 基督 Ji-du) là một danh hiệu của Giêsu, có nghĩa là “người được xức dầu”, nhằm chỉ ông là một vị lãnh đạo, chính trị cũng như tôn giáo, được chọn bởi Thiên Chúa. Những gì chúng ta biết được về Giêsu là do được ghi chép trong Thánh Kinh Tân Ước, đặc biệt là trong bốn sách Phúc Âm.

Những nguồn thông tin chính về cuộc đời và những lời dạy của Giêsu là bốn sách Phúc Âm quy điển, đặc biệt là trong Phúc âm Nhất lãm,[6][7] mặc dù nhiều học giả cho rằng những văn bản như Phúc âm Tôma và Phúc âm người Hebrews [8][9] cũng xác đáng.[10]

Trong Hồi giáo, Giêsu (tiếng Ả Rập: عيسى, chuyển tự là Isa) được xem là một nhà tiên tri quan trọng của Thiên Chúa[11][12], người mang lại Injil (Phúc âm), và là người làm những phép lạ. Hồi giáo cũng xưng nhận Giêsu là Đấng Masih (Messiah), nhưng họ không dạy rằng Giêsu mang đặc tính thần linh. Hồi giáo dạy rằng Giêsu đã lên thiên đường cả linh hồn và thể xác nhưng không trải qua việc đóng đinh vào thập tự và phục sinh,[13] khác với niềm tin truyền thống của Kitô giáo về cái chết và sự phục sinh của Giêsu.

Tiếng Hebrew, Hy Lạp và phiên âm Latin tên của Chúa Giêsu

Người Do Thái đương thời thường thêm tên người cha hoặc tên quê quán vào tên gọi cá nhân.[14] Như vậy, trong Tân Ước, Giêsu cũng được gọi là “Giêsu thành Nazareth” (Matthew 26:71)[15], “con ông Giuse” (Luca 4:22) hoặc đầy đủ nhất là “Giêsu con ông Giuse thành Nazareth” (John 1:45)[16]. Tuy nhiên, trong Máccô 6:3 thì lại gọi là “con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê, Giôxết, Giuđa và Simôn”[17]. Tên Giêsu ngày nay trong các ngôn ngữ hiện đại có nguồn gốc từ Iesus trong tiếng Latinh, đây là một hình thức chuyển tự của chữ Ἰησοῦς (Iesous) từ tiếng Hi Lạp.[18] Hình thức thể hiện của tiếng Hy Lạp lại bắt nguồn từ chữ ישוע (Yeshua) trong tiếng Aramaic, nhưng tựu chung có nguồn gốc từ chữ יהושע (Yehoshua) của tiếng Do Thái.[19][20] Tên Yeshua dường như đã được sử dụng trong xứ Judea tại thời điểm Giêsu ra đời.[21] Theo giải thích của Tân Ước, tên gọi này nghĩa là “Giavê là sự cứu rỗi”.[22]

Các tín đồ sơ khai đã thường gọi là “Chúa Giêsu Kitô”.[23] Chữ “Kitô” hoặc “Cơ Đốc” (tiếng Anh: Christ) không phải là tên nhưng là một danh hiệu. Trong tiếng Hy Lạp Khristos (Χριστός), có nghĩa là “người được xức dầu”, được dịch từ tiếng Hebrew Messiah, để ám chỉ vị lãnh đạo được Thiên Chúa sai đến để giải cứu dân Chúa, nhưng trong ngôn ngữ hiện đại được hiểu là “Đấng cứu thế”.[18][24] Chữ Kitô hữu được chỉ những người tin và theo Chúa Kitô.

Theo ký thuật của các sách Phúc Âm, Giêsu xưng mình là Con người (the Son of man – tức “Con của loài người”, “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con người không có chỗ tựa đầu” – Mt 8:20). Danh xưng này thường được cho là để khẳng định Giêsu là một con người trọn vẹn cũng như Giêsu được gọi là Con Thiên Chúa (the Son of God, “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” – Mt 27:54) để khẳng định Giêsu đồng thời cũng là Thiên Chúa cách trọn vẹn.[25].

Ngoài ra, Giêsu còn có một số danh xưng khác như “Đấng Tiên tri”, “Chúa”. Trong Phúc âm John chương 14 câu 6 chép: “Đức Chúa Giêsu phán rằng: Thầy là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy” (John 14:6). Theo đức tin Kitô giáo, Giê-su là con Đức Chúa Trời, và được sinh ra trên Trái Đất và chịu đóng đinh, để cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi, nên Giê-su còn được xưng tụng là Đấng Cứu Thế, Đấng Cứu Rỗi,Cứu Chúa -“Nhưng Thiên Chúa tỏ lòng yêu thương của Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Chúa Cơ Đốc vì chúng ta chịu chết“. (Roma 5:8).

Niên đại

Hầu hết các học giả đồng ý rằng Giêsu là một người Do Thái vùng Galilee, sinh vào khoảng đầu thế kỷ thứ nhất và qua đời trong khoảng từ năm 30 đến 36 SCN tại xứ Judea, ông chỉ sống và hoạt động tại Galilê và Giuđêa chứ không ở nơi khác[26][27]. Các sách Phúc Âm chỉ tập trung vào quãng đời ba năm cuối khi Giêsu sống dưới trần gian, đặc biệt là tuần lễ cuối cùng trước khi bị đóng đinh vào thập giá, nhưng chúng cũng cung cấp một số manh mối liên quan đến năm sinh của Chúa Giêsu. Đoạn Mátthêu 2:1 liên kết sự giáng sinh của Chúa Giêsu với sự cai trị của Herod Đại đế – người đã chết vào khoảng năm thứ 4 trước Công nguyên, và đoạn Luca 1:5 viết rằng Herod đã trị vì trước khi Chúa Giêsu giáng sinh, ngoài ra Phúc Âm này còn đề cập đến cuộc điều tra dân số của chính quyền La Mã diễn ra mười năm sau đó. Luke 3:1-2 và 3:23 viết rằng Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ khi ông khoảng ba mươi tuổi, và đó là năm thứ 15 của triều đại Tiberius triều đại (khoảng năm 28 hoặc 29 Công Nguyên). Qua những chi tiết này và bằng các phương pháp phân tích khác nhau, hầu hết các học giả đi đến đồng thuận rằng Chúa Giêsu sinh trong khoảng từ năm thứ 6 đến 4 trước Công nguyên,[28]

Về thời điểm qua đời, tức là sự kiện ông bị đóng đinh trên cây thập giá, hầu hết các học giả đồng ý rằng sự kiện này xảy ra trong khoảng từ năm 30 đến 33 Công nguyên.[29][30] Các sách Phúc Âm nói rằng sự kiện này xảy ra trong thành xứ Judea mà Pilate là tổng trấn thuộc quyền La Mã khoảng năm 26-36.[31] Người ta tin rằng ngày mà Phaolô theo Kitô giáo (ước tính khoảng năm 33-36) có mối liên hệ nào đó đến cho ngày Chúa Giêsu bị đóng đinh qua việc phân tích thư của Thánh Phaolô và Sách Công vụ Tông đồ.[32] Các nhà thiên văn từ thời Isaac Newton đã cố gắng ước lượng chính xác ngày Chúa Giêsu bị đóng đinh bằng cách phân tích chuyển động của Mặt Trăng và tính theo lịch sử của lễ Vượt Qua theo lịch của người Do Thái. Và ngày giả thiết được chấp nhận rộng rãi nhất theo phương pháp này là ngày 7 tháng 4, năm 30 AD; và ngày 3 tháng 4 năm 33 (kể cả lịch Julian).

Cuộc đời và tư tưởng theo Kinh thánh Tân Ước

Theo các sách phúc âm kinh điển

Trong Kinh thánh Tân Ước, Cuộc đời và tư tưởng của chúa Giêsu được giao giảng lại theo các sách Phúc Âm (bao gồm: Phúc Âm Mátthêu, Phúc Âm Máccô, Phúc Âm Luca và Phúc Âm Gioan), ngoài kinh thánh Tân Ước, cuộc đời chúa Giê-su còn có trong thư tín của Thánh Phao Lô được viết trước sách phúc âm nhiều thập kỷ, bao gồm nhiều chi tiết quan trọng như “Bữa ăn tối cuối cùng”.[33][34] Trong Sách Công vụ Tông đồ có đề cập đến các sứ mệnh và các tiên đoán về chúa Giêsu bởi Gioan Tẩy Giả.

Gia phả và Chúa giáng sinh

Bài chi tiết: Sự giáng sinh của Chúa Giêsu

Giê-su là một người Do Thái tôn trọng luật pháp Moses (kinh Torah), là nhà thuyết giáo và người chữa bệnh bằng phép mầu, cũng là người thường bất đồng với giáo quyền Do Thái, và cuối cùng, là người bị đóng đinh trên thập tự giá dưới phán quyết của chính quyền Đế quốc La Mã theo ý giáo quyền Do Thái.

Theo đó, Giêsu sinh tại Belem (gần Jerusalem). Mẹ của Giêsu, Maria (Mary), là một phụ nữ đồng trinh đã mang thai bởi quyền năng siêu nhiên của Chúa Thánh Linh. Giuse (Joseph), chồng của Maria, chỉ được nhắc đến trong thời thơ ấu của Giêsu, dẫn đến những suy đoán rằng ông qua đời trước khi Giêsu bắt đầu đi giảng dạy.[35][36] Theo các sách Phúc Âm, khi Giêsu sinh ra, các mục đồng được thiên sứ báo tin đã đến thờ lạy và mấy nhà thông thái (còn gọi là mấy nhà chiêm tinh hay mấy đạo sĩ, hoặc ba vua) từ phương Đông xa xôi, được dẫn dắt bởi một ngôi sao lạ, đã tìm đến để tôn thờ Giêsu.

Phúc âm Mark 6:3 ký thuật rằng “Giêsu là con của Maria, anh của Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon”. Josephus, sử gia Do Thái, và Eusebius, sử gia Kitô giáo, có nhắc đến Người Công chính như là em ruột của Giêsu. Tuy nhiên, Hieronymus cho rằng Giacôbê chỉ là em họ của Giêsu. Cách giải thích này đặt nền tảng cho truyền thống Công giáo Rôma và Chính Thống giáo Đông phương tin rằng Maria đồng trinh trọn đời.

Thời niên thiếu

12-year-old Jesus found in the temple depicted by James Tissot

Chúa Giêsu được tìm thấy trong một ngôi đền lúc 12 tuổi, được miêu tả bởi James Tissot

Giêsu trải qua thời niên thiếu tại làng Nazareth thuộc xứ Galilee. Chỉ có một sự kiện xảy ra trong thời gian này được ghi lại là khi cậu bé Giêsu theo gia đình lên Jerusalem trong một chuyến hành hương. Bị thất lạc khỏi cha mẹ, cuối cùng cậu bé Giêsu 12 tuổi được tìm thấy trong Đền thờ Jerusalem, đang tranh luận với các học giả Do Thái giáo.

Bí tích Thanh tẩy

Ngay sau khi chịu lễ Thanh Tẩy (lễ rửa tội) bởi Gioan Baotixita, Giêsu bắt đầu đi rao giảng, khi ấy khoảng ba mươi tuổi. TheoPhúc Âm Lu-ca, Giêsu và Gioan Baotixita là anh em họ vì Maria và Elizabeth, mẹ của Gioan, là hai chị em họ.

Tin Mừng Thánh Luca viết trên một giấy cói bằng chữ Hy Lạp ở thế kỷ thứ 3

Sứ Mệnh và Giáo Vụ của Chúa Giêsu

Theo Kinh Thánh, Giêsu đã cùng các môn đồ đi khắp xứ Galilea để giảng dạy và chữa bệnh. Cung cách giảng dạy mang thẩm quyền, uy lực cùng với kỹ năng diễn thuyết điêu luyện, Giêsu sử dụng các dụ ngôn để giảng dạy quan điểm về tình yêu thương nên đã thu hút rất nhiều người. Họ tụ họp thành đám đông và tìm đến bất cứ nơi nào Giêsu có mặt. Đôi khi đám đông trở nên mất trật tự và ông buộc phải ngồi trên thuyền mà giảng dạy. Giêsu cũng tìm đến và thuyết giáo tại các hội đường Do Thái giáo (synagogue).

Giêsu áp dụng các phương pháp khác nhau khi giảng dạy, phép nghịch lý, phépẩn dụ và các truyện dụ ngôn. Ông thường tập trung vào Nước Trời (hay Thiên Quốc). Nổi tiếng nhất là Bài giảng trên núi, trong đó đề cập đến Tám Mối Phúc thật(Beatitudes). Trong số những dụ ngôn của Giêsu, được biết đến nhiều nhất là hai câu chuyện: Người Samaria nhân lành và Người con trai hoang đàng. Giêsu có nhiều môn đồ, thân cận nhất là mười hai sứ đồ (hoặc tông đồ), Phêrô (Peter) được Công giáo Rôma cho là sứ đồ trưởng. Theo Tân Ước, Giêsu làm nhiều phép lạ như chữa bệnh, đuổi tà ma và khiến một người đàn ông tên là Lazarô sống lại khi đã chết.

Giới lãnh đạo Do Thái giáo bao gồm các nhóm quyền lực đối nghịch nhau như nhóm Sadducee và nhóm Pharisêu (Pharisee) thường bất đồng với Giêsu. Ông vẫn thường vạch trần tính chuộng hình thức cũng như tinh thần đạo đức giả của người Pharisêu. Nhiều người xem Giêsu như một nhà cải cách xã hội, những người khác tỏ ra nhiệt tình vì tin rằng ông là vị vua đến để giải phóng dân Do Thái khỏi ách thống trị của Đế quốc La Mã, trong khi giới cầm quyền xem Giêsu như một thế lực mới đang đe dọa những định chế tôn giáo và chính trị đương thời. Nhiều người tin nhận Giêsu là “Đấng Cứu Tinh” (Messie, Messiah) đến để cứu chuộc nhân loại.

Bị bắt và bị xét xử

Giêsu cùng các môn đồ lên thành Jerusalem vào dịp Lễ Vượt Qua (Passover); ông vào Đền thờ Jerusalem, đánh đuổi những người buôn bán và những kẻ đổi tiền, lật đổ bàn của họ và quở trách họ rằng: “Nhà ta được gọi là nhà cầu nguyện nhưng các ngươi biến thành hang ổ của bọn trộm cướp”. Sau đó, Giêsu bị bắt giữ theo lệnh của Toà Công luận (Sanhedrin) bởi viên Thượng tế Joseph Caiaphas. Trong bóng đêm của khu vườn Getsemani ở ngoại ô Jerusalem, lính La Mã nhận diện Giêsu nhờ cái hôn của Judas Iscariot, một môn đồ đã phản ông để nhận được tiền.

Tòa công luận cáo buộc Giêsu tội phạm thượng và giao ông cho các quan chức Đế quốc La Mã để xin y án tử hình, không phải vì tội phạm thượng nhưng vì cáo buộc xúi giục nổi loạn. Dưới áp lực của giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái, Tổng đốc Pontius Pilatus (Philatô) miễn cưỡng ra lệnh đóng đinh Giêsu. Tuy nhiên, theo các sách Phúc Âm, một tấm bảng có hàng chữ viết tắt INRI (của câu: “Giêsu người Nazareth, vua dân Do Thái”) được treo trên thập tự giá theo lệnh của Pilate.

Sau khi Giêsu chết, Giuse người Arimathea đến gặp Pilate và xin được phép chôn với sự chứng kiến của Maria, Maria Magdalena và những phụ nữ khác.

Phục sinh và thăng thiên

Các Kitô hữu tin rằng Chúa Giêsu sống lại vào ngày thứ ba sau khi chết trên thập tự giá. Sự kiện này được đề cập đến theo thuật ngữ Kitô giáo là sự Phục sinh của Chúa Giêsu, được cử hành hằng năm vào ngày Lễ Phục sinh.

Maria Madalena và Maria, mẹ của Giacobê, và Salome khi đến thăm mộ với thuốc thơm để xức xác ông (theo tục lệ thời ấy) thì chỉ thấy ngôi mộ trống mà trước đó họ đã an táng ông trong đó [Mác-cô 16:1]. Phúc Âm Gioan (20:12, 20:13, 20:14) thuật rằng khi Maria Madalena đến bên ngôi mộ trống thì thấy hai thiên sứ mặc áo trắng. Hai thiên sứ hỏi: “Hỡi người đàn bà kia, sao ngươi khóc? Người thưa rằng: Vì người ta đă dời Chúa tôi đi, không biết để Ngài ở đâu”. Vừa nói xong người đàn bà quay lại, thấy Đức Chúa Jêsus tại đó; nhưng chẳng biết ấy là Đức Chúa Giêsu. Các sách Phúc Âm và Công vụ đều ghi nhận rằng Giêsu đã gặp lại các môn đệ tại các nơi chốn khác nhau trong suốt bốn mươi ngày trước khi về trời. Phúc âm Mác-cô (16:20) chép, về phần các môn đồ, thì họ ra đi giảng đạo khắp mọi nơi, Chúa cùng đi với các môn đồ, và lấy các phép lạ cặp theo lời giảng mà làm cho vững đạo. Và đức Chúa Giêsu luôn ở cùng các môn đồ của Ngài cho đến ngày tận thế [Mat-tê-ô 28:20].

Hầu hết Kitô hữu chấp nhận câu chuyện phục sinh, như được ký thuật trong Tân Ước, là sự kiện lịch sử và xem đây là tâm điểm cho Đức tin Kitô giáo của họ mặc dù theo quan điểm của một số tín hữu thuộc trào lưu tự do (liberalism), đây chỉ là câu chuyện có tính ẩn dụ. Tuy nhiên lịch sử chứng minh đây là niềm tin bất di dịch của Kitô giáo. Tất cả Kitô hữu tin rằng Giêsu đã làm nhiều dấu kỳ phép lạ và các tông đồ được ban cho quyền lực siêu nhiên bởi ơn Chúa Thánh Thần để chữa lành bệnh tật cho nhiều người và nói được nhiều thứ tiếng khác nhau sau khi Chúa Giêsu về trời.

Bối cảnh: văn hóa và lịch sử

Xứ Palestine thời Giêsu sống

Thế giới đương thời mà Giêsu sống luôn biến động, được đánh dấu bởi những bế tắc nối tiếp nhau cả về văn hoá và chính trị. Về văn hoá, vì người Do Thái phải vật lộn với nền triết học và các giá trị của văn minh Hy Lạp và với sự mâu thuẫn nội tại của kinh Torah, vì trong khi kinh Torah mặc khải các chân lý có giá trị cho toàn thể nhân loại thì các luật lệ của nó chỉ áp dụng riêng cho người Do Thái. Tình thế này dẫn dắt họ đến những cách giải kinh mới chịu ảnh hưởng của tư tưởng Hy Lạp và nhằm đáp ứng quyền lợi của người không thuộc chủng tộc Do Thái đã gia nhập Do Thái giáo.

Vào thời điểm Giêsu sinh ra, lãnh thổ Israel thuộc Đế quốc La Mã, nhưng đặt dưới quyền cai trị của Herôđê Đại Đế. Vào năm 4, Hoàng đế La Mã Augustus phế truất Herod Archelaus, con của Herôđê Đại Đế và đặt các xứ Judea, Samaria vàIdumea dưới quyền cai trị trực tiếp của chính quyền La Mã, được giám sát bởi một quan tổng đốc, người này có quyền bổ nhiệm chức Thượng tế của Do Thái giáo. Tình trạng này kéo dài cho đến năm 64. Xứ Galilea, nơi Giêsu lớn lên, vẫn dưới quyền cai trị của Herod Antipas (một người con khác của Herôđê Đại Đế). Khi ấy Nazareth là một làng quê nhỏ bé với vài trăm cư dân, không có hội đường Do Thái giáo (synagogue), cũng không có cơ sở công cộng nào. Không cóvàng, bạc hay sản phẩm nhập khẩu được tìm thấy ở đây trong cuộc khai quật khảo cổ.

Vài phe nhóm tranh giành ảnh hưởng với nhau trong cộng đồng Do Thái như nhóm Saducee, có quan hệ mật thiết với giới tư tế và Đền thờ, trong khi nhóm Pharisêu có nhiều ảnh hưởng trong vòng các học giả, giáo sư và lãnh đạo các hội đường. Các nhóm này chống đối sự chiếm đóng của Đế quốc La mã nhưng vào thời Giêsu họ vẫn cố kềm chế để không có phản ứng công khai nào.

Nhiều người kỳ vọng vào sự xuất hiện của một vị Cứu Tinh (Messiah), hậu duệ của vua David để giải phóng họ khỏi sự cai trị của người La Mã. Theo đức tin Do Thái, lịch sử được điều khiển bởi Thiên Chúa, có nghĩa là sự chiếm đóng của người La Mã là một phần trong hoạch định của Ngài. Vì vậy đế quyền La Mã cần được thay thế bởi một vị vua Do Thái nhờ sự can thiệp siêu nhiên. Những người thuộc nhóm quá khích tin rằng chẳng bao lâu Vương quốc Do Thái sẽ được phục hồi và họ chuẩn bị các phương tiện để chống người La Mã. Các phản ứng của người La Mã cuối cùng dẫn đến sự phá đổ Đền thờ và sự suy vong của các nhóm kể trên.

Di sản của Giêsu

Theo hầu hết các giải thích Kinh Thánh của Kitô giáo, các chủ đề cơ bản của những lời răn dạy của Giêsu là sự hối cải, tình yêu vô điều kiện, tha thứ tội lỗi và khoan dung và về Thiên đường.[37] Khởi đầu như một giáo phái nhỏ của người Do Thái,[38] nó đã phát triển và trở thành một tôn giáo riêng biệt so với đạo Do Tháivài thập kỷ sau cái chết của Giêsu. Kitô giáo đã lan rộng ra khắp đế chế La Mã dưới dạng được biết đến qua Tín điều Nicea và trở thành quốc giáo dưới thờiTheodosius I. Qua hàng thế kỷ, nó lan rộng đến hầu hết châu Âu và trên toàn thế giới. C. S. Lewis và Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã bảo vệ niềm tin vào Chúa Giêsu trước những sự chỉ trích mang tính lịch sử.

Nhận định từ một số tôn giáo

Hầu hết Kitô hữu tin rằng, Giêsu là Thiên Chúa, là Đấng Messiah mà sự xuất hiện đã được tiên báo trong Cựu Ước. Họ tin rằng Giêsu là Thiên Chúa hóa thân thành con người, là Ngôi Hai trong Ba Ngôi; rằng Giêsu nhập thể bởi quyền phép Chúa Thánh Linh, xuống thế gian để cứu nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết bởi máu của Giêsu đã đổ ra khi bị đóng đinh trên thập tự giá như là sinh tế chuộc tội cho loài người. Họ cũng tin rằng Giêsu đã sống lại từ cõi chết và sau đó trở lại Thiên Đàng.

Khác với đức tin của người Kitô giáo, tín đồ Hồi giáo tin rằng, Giêsu là một trong những nhà tiên tri (ngôn sứ) đáng được tôn trọng, được Thiên Chúa sai đến và làĐấng Messiah; nhưng họ không tin Giêsu là “Con Thiên Chúa”. Họ cũng không tin về sự chết và sự phục sinh của Giêsu, xem đó chỉ là sự hóa phép của Thiên Chúa dành cho tiên tri Giêsu để đánh lừa người đương thời. Sau đó, Giêsu về trời cả hồn lẫn xác.

Do Thái giáo thì cực lực phản đối cả hai niềm tin của hai tôn giáo trên. Họ không xem Giêsu là Thiên Chúa xuống thế làm người cũng không nhận đó là nhà tiên tri, thậm chí coi đó là nhà tiên tri giả hay kẻ xúc phạm đến Thiên Chúa của họ. Họ cho rằng, kể từ sau sự sụp đổ lần thứ hai của Đền thờ Jerusalem, không có một tiên tri nào xuất hiện thêm nữa. Cho đến tận bây giờ, họ vẫn đang hy vọng có một Đấng Messiah từ trời xuống.

Phật giáo hầu như không đưa ra nhận định về vai trò của Giêsu trong tôn giáo họ. Đối với họ, dựa theo lịch sử, Giêsu chỉ là một con người. Tuy nhiên, một số tín đồ thuộc một số phái cho rằng, với những đức tính hiển nhiên của Giêsu, chắc chắn sau đó Giêsu cũng được sinh vào cõi trời dựa theo luật nhân quả. Do đó, những người tu theo Phật giáo cấp tiến, nhất là Tịnh độ tông, có thể tôn kính Giêsu như một vị A-la-hán hay Bồ tát[39].

Một số Phật tử, trong đó có Tenzin Gyatso, Đạt-lại Lạt-ma thứ 14[40] xem Giêsu như một vị Bồ tát, người cống hiến đời mình cho hạnh phúc của nhân loại. Nga Sơn Thiều Thạc ở thế kỷ 14 của Tào Động tông ngụ ý rằng những lời dạy của Giêsu trong Sách Phúc Âm do một người đã được giải thoát viết.[41]

Một người Nhật theo chủ nghĩa vô chính phủ, Kōtoku Shūsui có viết tác phẩm Kirisuto Massatsuron(基督抹殺論, Cơ Đốc Mạt Sát Luận). Trong tác phẩm này, Shūsui cho rằng Chúa Giêsu chỉ là một nhân vật thần thoại và không có thực.[42][43].

Vì có vai trò đặc biệt trong một số tôn giáo này, Giêsu được nhìn nhận là một trong những nhân vật quan trọng nhất và có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong lịch sử nhân loại.

  Bí ẩn báu vật huyền thoại trong Kinh Thánh

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC

CÓ THỂ BẠN THÍCH XEM

VĂN HÓA VIỆT NAM

TIN MỚI NHẤT

Hyundai Ioniq 5

Hyundai mới đây đã công bố lượng đơn đặt hàng kỷ lục dành cho Ioniq 5 – dòng xe điện đầu tiên trong đội hình Hyundai cũng như thương hiệu con Ioniq. Ngay trong ngày đầu tiên mở bán (25/2), họ đã nhận được 23.760 đơn đặt hàng – con số kỷ lục chưa từng mẫu xe Hyundai nào ở bất kỳ phân khúc nào đạt đến.

Tại châu Âu, dù chưa đăng ký mở bán chính thức nhưng Hyundai cũng đã được 236.000 khách hàng đăng ký thông tin và sẵn sàng cọc trước cho chiếc SUV điện – cũng là mức kỷ lục cho một dòng xe Hyundai trong khu vực. 3.000 xe thuộc phiên bản đặc biệt Project 45 cũng đã cháy hàng khi có lượng đặt cọc trước cao gấp 3 lần.


Hyundai sẽ bắt tay vào lắp ráp Ioniq 5 từ tháng 3 này với cam kết sẽ không bị hạn chế sản lượng do đã dự trữ chip linh kiện từ trước, nhờ thế tránh được tình cảnh phải sản xuất cầm chừng như nhiều đối thủ đang gặp phải.

Hyundai Ioniq 5 có 2 tùy chọn ắc quy với dung lượng 58 và 72,6 kWh. Xe trang bị khung gầm E-GMP hoàn toàn mới với kết cấu mô tơ điện kép cho tổng công suất tối đa 302 mã lực cho phép xe tăng tốc từ 0 lên 100 km/h trong 5,2 giây.

Tầm vận hành tối đa Ioniq 5 đạt được rơi vào ngưỡng xấp xỉ 480 km mỗi lần sạc đầy. Xe sở hữu công nghệ sạc nhanh 800V cho khả năng sạc đầy 80% trong 18 phút hoặc đủ đi 100 km trong 5 phút.

  Bí ẩn báu vật huyền thoại trong Kinh Thánh

Tham khảo: InsideEV, Carscoops

Xe bọc thép Atlet

Hiện nay những công đoạn cuối cùng nhằm hoàn thiện dòng xe bọc thép Atlet mới đang được tiến hành, trong tương lai gần Quân đội Nga sẽ được trang bị ồ ạt những siêu “quái thú” này.

Nga sắp có xe bọc thép thế hệ mới

Nhà chế tạo xe bọc thép chở quân lớn nhất của Nga, Công ty Công nghiệp Quân sự (Military-Industrial Company, viết tắt là VPK), hiện đang tiến dần tới việc sản xuất loạt dòng xe “quái thú” thế hệ mới mà họ vừa hoàn thiện.

Tuy nhiên, để chính thức được Bộ Quốc phòng Nga đặt mua và trang bị ồ ạt cho Quân đội Nga thì những chiếc xe bọc thép Atlet của VPK còn phải vượt qua một thử thách cực lớn nữa đó là giai đoạn thử nghiệm cấp nhà nước.

Ông Alexander Krasovitsky – Tổng giám đốc VPK cho biết “Tính tới thời điểm hiện tại, xe bọc thép Atlet đã hoàn tất các giai đoạn thử nghiệm cơ bản và chuẩn bị bước vào giai đoạn thử nghiệm cấp nhà nước. Dự kiến Atlet sẽ bắt đầu thử thách lớn cuối cùng này vào mùa Xuân 2021 và kéo dài tới cuối mùa hè cùng năm”.

Xe bọc thép Atlet thế hệ mới do Nga chế tạo

Tư lệnh Lục quân Nga, tướng Oleg Salyukov cho biết giai đoạn thử nghiệm cấp nhà nước đối với xe bọc thép Atlet sẽ hoàn thiện trong năm 2021.

“Quái thú” vượt trội hơn hẳn “Hổ”

  Phật Thích-ca Mâu-ni

Xe bọc thép Atlet có cấu hình 2 cầu chủ động (4×4) và được thiết kế để chở quân và hàng hóa quân sự, có khả năng phòng hộ cực tốt, có thể kéo rơ-moóc và làm khung gầm để gắn nhiều loại vũ khí trang bị và các khí tài đặc chủng.

Với cấu hình tiêu chuẩn, những chiếc “quái thú” này được trang bị các ghế ngồi giảm chấn cho tất cả các thành viên của kíp xe và được trang bị điều hòa không khí. Nhờ khả năng kháng mìn tuyệt hảo, xe chịu được sức nổ của mìn có đương lượng nổ tương đương 2kg TNT.

Atlet kế thừa toàn bộ những ưu điểm vượt trội của dòng xe bọc thép Tiger biệt danh là “Hổ” cũng do VPK chế tạo nhưng ở đẳng cấp cao hơn rất nhiều.

So sánh với xe bọc thép Tiger “đàn anh”, Atlet có sức chở lớn hơn, tới 1.600kg so với chỉ 1.200kg của Tiger và khả năng kháng mìn tốt gấp 3 lần, lên tới 2kg TNT so với 0,6kg TNT của Tiger. Khả năng chở quân của 2 dòng xe là tương đương nhau.

Xe bọc thép Atlet thế hệ mới do Nga chế tạo.

Xe được trang bị động cơ YaMZ-5347-24 cho công suất đỉnh 240 mã lực hoặc lựa chọn các động cơ khác có công suất tới 300 mã lực, tất cả đều mạnh mẽ hơn so với các phiên bản động cơ trang bị cho Tiger. Tuy nhiên, trọng lượng của Atlet lại lớn hơn, tới 9,5 tấn, so với khoảng 7,2 tấn của “đàn anh” Tiger.

  Nhiên Đăng Cổ Phật


Hồi tháng 8/2020, các xe Atlet đã bước vào giai đoạn thử nghiệm cấp nhà máy và đến nay công tác này đã hoàn tất.

Ông Alexander Krasovitsky – Tổng giám đốc VPK cho biết, những chiếc xe bọc thép Atlet đã thực hành các khoa mục thử nghiệm tại nhiều thao trường thử nghiệm gồm:

– Trung tâm Nghiên cứu và triển khai phương tiện cơ giới (ở Bronnitsy, vùng Moscow),

– Trung tâm Nghiên cứu và triển khai xe bọc thép (ở Kubinka, vùng Moscow),

– Trung tâm thử nghiệm phương tiện cơ giới của Bộ Quốc phòng Nga và Trung tâm thử nghiệm xe cơ giới NAMI (ở quận Dmitrov, vùng Moscow).

Tại các trung tâm thử nghiệm này, xe bọc thép Atlet đã hoàn tất hàng nghìn km trên đủ loại đường khác nhau, từ đường đồng, đường tạm cho tới các loại đường đặc biệt, nó cũng thử nghiệm kéo theo cả một xe thùng (rơ-moóc 2,5 tấn), kiểm tra khả năng vận hành trong điều kiện nhiệt độ cao và thấp cũng như khả năng vượt hào, chướng ngại nước.

Ngoài ra, dòng xe mới này cũng được kiểm tra căn kẽ khả năng chống đạn và kháng mìn.

“Trước khi dòng xe mới được trang bị cho quân đội và các lực lượng, chúng tôi phải đảm bảo chắc chắn rằng nó đủ khả năng bảo vệ hoàn hảo người lính trong điều kiện tác chiến thực tế”, ông Alexander Krasovitsky cho biết.

  Phật

Hiện tại, nhà chế tạo đang hoàn thiện các mẫu xe bọc thép Atlet gồm phiên bản thiết kế đặc biệt (ASN) và phiên bản xe bọc thép đa dụng 5 cửa (AMN-2).

Chắc chắn trong tương lai gần, có thể là ngay từ năm 2022, nhưng chiếc xe bọc thep Atlet thế hệ mới sẽ bắt đầu được sản xuất loạt và trang bị cho Quân đội Nga.

Không loại trừ khả năng trong thời gian tới chúng ta có thể thấy những con “quái thú” này xuất hiện ở Syria nhằm thử lửa ở chiến trường khốc liệt để chứng minh khả năng vận hành cũng như phòng hộ tuyệt hảo của mình.

Có thể, qua đó, các nhà chế tạo sẽ rút được các kinh nghiệm từ thực tế chiến đấu nhằm hoàn thiện, cải tiến và tối ưu hóa các tính năng của xe.

Trước đó, các xe bọc thép Tiger và BPM-97 đã được Nga tung sang chiến trường Syria, qua thực chiến chúng được đánh giá rất cao và được coi là nỗi kinh hoàng của khủng bố IS và phiến quân đối lập ở quốc gia Trung Đông này.

Cờ vua

1.1. Theo dòng lịch sử

            Trên hành tinh chúng ta có một trò chơi kết hợp trí tuệ và nghệ thuật do con người sáng tạo ra từ ngàn năm nay. Trải qua hàng chục thế kỷ chiêm nghiệm, con người đã liệt nó vào một trong bốn thú chơi thanh tao, nghệ thuật bậc nhất của nhân loại “Cầm Kỳ Thi Họa”. Đó chính là Cờ (Kỳ). Cờ được sánh ngang với âm nhạc, hội họa, văn chương. Như vậy thì quả là không còn gì phải bình phẩm thêm nữa! Từ một thú chơi, cờ dần dà mang tính thể thao thử thách trí thông minh, óc sáng tạo của con người. Thời gian sàng lọc tất cả, chỉ những gì tinh tuý nhất mới được giữ lại. Trên trái đất này đã từng xuất hiện biết bao trò chơi, biết bao môn thể thao, trong số đó có rất nhiều trò chơi xuất hiện rồi mai một, rơi vào dĩ vãng và bị quên lãng. Riêng cờ thì khác hẳn. Đã trải qua hơn 1500 năm kể từ ngày nó ra đời, không những nó không bị mai một đi mà trái lại ngày càng phát triển mạnh mẽ, rộng khắp ở tất cả các châu lục. Ngày nay khi nhân loại ngày càng văn minh thì cũng là lúc cờ ở vào thời kỳ hoàng kim của mình. Dù là cờ Tướng hay cờ Vua (bởi chúng là hai anh em sinh đôi) thì sức sống của chúng ngày càng mãnh liệt.
Một cách tự nhiên, những người chơi cờ, những người yêu thích cờ đến một lúc nào đó cũng sẽ đặt ra câu hỏi:

Cờ có từ bao giờ và lịch sử cả nghìn năm qua của nó ra sao?

Vì sao cờ được con người yêu thích và say mê như vậy?

Từ xưa tới nay ai là những người chơi cờ giỏi nhất?

Cờ có ích lợi gì cho con người?

Cờ ngày nay có khác gì với cờ ngày xưa không? v.v…

***
Để trả lời những câu hỏi trên chúng ta hãy ngược dòng thời gian, cùng làm một chuyến du lịch về quá khứ .

Những dòng mở đầu về lịch sử cờ cũng giống như ở các câu chuyện cổ tích mà chúng ta thường nghe :”Ngày xửa ngày xưa, cách đây lâu lắm rồi…”

Vào khoảng thế kỷ thứ 6, Ấn Độ ,quốc gia rộng lớn của Phương Đông, từng là một trung tâm văn hóa và nghệ thuật thế giới. Ngày nay,sang thăm đất nước này, chúng ta vẫn không khỏi kinh ngạc trước những đền đài hùng vĩ, những nhà thờ lộng lẫy, oai nghiêm, những khu lăng tẩm tráng lệ, những tượng thần tạc bằng đá, bằng đồng…tinh vi, sống động…

Vào thời xa xưa ấy, Ấn Độ cũng là đỉnh cao của toán học, của khoa chiêm tinh. Ấn Độ có nhiều nhà bác học mà thời đó người ta gọi là các nhà thông thái.

Các nhà thông thái của thế giới cổ đại ấy đã sáng tạo một trò chơi gọi là ”Saturanga” tức là trò chơi chiến trận đối kháng có hai bên tham gia. Các quân tượng trưng cho một thế trận gồm đầy đủ chỉ huy và bốn binh chủng quân đội thời bấy giờ. Phía trước là một hàng quân tiến bước, tiếp đến là các chàng kỵ mã và các đội voi chiến (Ấn Độ có rất nhiều voi). Mé ngoài cùng là những chiếc xe di động. Chiễm chệ giữa hàng quân là đức Vua cùng với các cận thần.
Lúc đầu thế trận như vậy được bày trên đất, có cả “sông” và “núi” ngăn cách. Dần dà thế trận rộng lớn được thu nhỏ lại trên một bàn cờ được chia thành các ô và các quân được cách điệu hóa. Từ đó cờ dễ dàng đến với tất cả mọi người, chu du khắp thiên hạ. Các nhà thông thái hết sức thú vị với cách bày trận của mình vì họ cảm thấy chính họ là những thống lĩnh tối cao, chỉ huy toàn bộ ba quân, được dịp phô trương tài nghệ thao lược của mình. Quân của hai bên khôn khéo dàn trận, cố gắng chiếm những vị trí xung yếu, lấn dần trận địa đối phương rồi xáp chiến, khi tấn công mạnh mẽ, khi thoái lui chiến lược, lúc bất thần đánh thẳng vào đại bản doanh quân địch để bắt sống Vua đối phương, và cũng không ít khi bị bên đối phương “cao tay ấn” đánh cho tơi tả, chạy trốn không còn mảnh giáp, lại phải nhẫn nhục, kiên trì gom góp tàn quân, gan góc cố thủ, suy tính cơ mưu để phục hồi lực lượng, phục kích đối phương nhằm chuyển bại thành thắng. Mỗi nhà cầm quân vừa có tài thao lược vừa phải nắm bắt mọi ý đồ, mưu mẹo của đối thủ, phải “đi guốc trong bụng” địch thủ, phán đoán được chiến thuật chiến lược, điểm mạnh điểm yếu của đối phương. Những tình cảm rất tự nhiên của con người như vui buồn, yêu ghét, tức giận, khoan hòa… đều thể hiện qua cuộc cờ. Trái tim người chơi cờ cũng rung động theo những tình cảm đó, tạo nên niềm say mê không bao giờ dứt.

***
Truyền thuyết kể lại rằng sau khi phát minh ra bàn cờ, nhà phát minh được nhà Vua cho phép tự chọn phần thưởng cho mình. Ông bèn tâu lên: “Muôn tâu bệ hạ, bàn cờ của hạ thần có 64 ô vuông, xin bệ hạ cho đặt ở ô thứ nhất một hạt thóc, ô thứ hai gấp đôi ô thứ nhất tức là hai hạt và cứ như thế số thóc của ô sau gấp đôi ô trước”. Nhà vua thấy rằng những hạt thóc nhỏ bé được đặt vào chỉ có 64 ô cờ chắc chẳng đáng là bao bèn đồng ý ngay và giục quần thần đếm thóc thưởng cho ông. Sau một hồi tính toán, quần thần kinh hãi tâu cho vua biết số thóc ấy là con số : 18 446 744 073 709 551 615 hạt

Một con số lớn khủng khiếp mà nếu quy ra thóc thì toàn bộ số thóc có trong vương quốc cộng với toàn bộ số thóc của các nước lân bang cũng không đủ để thưởng cho nhà phát minh.

Như đã nói trên, quân cờ dần dần được cách điệu hóa và luật chơi cũng hình thành rõ ràng. Nói đúng ra thì luật lệ trò chơi ấy lúc bấy giờ còn đơn giản hơn nhiều so với bây giờ. Các nhà khảo cổ đã khai quật và tìm được những quân cờ nguyên dạng thời đó. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ,văn học cũng đã tìm được những văn bia, bản chép tay, tuy ít ỏi song cũng khá đầy đủ để chứng minh được sự ra đời của trò chơi trí tuệ xuất hiện đầu tiên trên đất nước này.

Ví dụ trong quyển trường ca bằng thơ nhan đề ”Vaxavađata” của nhà thơ Xabar, viết bằng tiếng Phạn vào cuối thế kỷ thứ 6 đầu thế kỷ thứ 7, có một đoạn miêu tả , so sánh một cách dí dỏm :”Ôi, mùa mưa đóng vai trò như một ván cờ, mà quân cờ là những con ếch xanh, những con ếch vàng đang nhảy nhót trong khu vườn muôn màu hoa lá”.

Cũng một bài thơ Ấn Độ khác vào cuối thế kỷ thứ 7, ca ngợi lòng yêu hòa bình và nhân từ của nhà vua Xrihasi trị vì thời bấy giờ. Lời thơ mô tả :”Đất nước của đấng anh minh không có sự hiềm khích ngoài sự tranh đua của những bầy ong, người ta không dẫm chân lên nhau ngoài những dòng thơ ca, các đội quân không đánh nhau, ngoài những đội quân trên bàn cờ”.

Các đoàn thuyền trên biển cả, các đoàn lạc đà chở nặng hàng hóa đi về phía Tây. Những người chủ của những chuyến hàng đã học được khá nhiều điều hay và mới lạ ở những quốc gia mình đã đi qua, đem về kể và truyền lại cho đồng bào mình.Trong số những điều mới lạ ấy có cả trò chơi Saturanga kỳ thú.

Tương tự như thế, trò chơi Saturanga theo những con đường thương mại và Phật đạo, vượt qua bao núi cao vực thẳm sang phía Đông để đặt nền tảng cho cờ Tướng ở Trung Hoa và các nươc Đông Nam Á.

Ở Trung Á, trò chơi ngoại nhập này mau chóng được mọi tầng lớp ưa chuộng. Không những các nhà quyền quí, lái buôn giàu sụ cho mình là ”nhà thông thái”, khoe tài ”đánh trận” mà cả vua chúa, quần thần, tướng lĩnh cho đến những người thợ thủ công chân đất trong giờ nhàn rỗi cũng đọ trí, thử tài với nhau. Do nhiều người chơi cho nên luật đặt ra cũng phải thống nhất. Luật chơi cờ được cải tiến dần, số quân mỗi bên được ấn định đúng với chức năng của nó. Ví dụ quân Xe được thay bằng quân Tháp. Bởi vì khi ấy ở Trung Á người ta không hiểu Xe để làm gì, mà bao giờ ở vành ngoài cùng, để bảo vệ một pháo đài hoặc một kinh đô, cũng là những bức tường thành được biểu hiện bằng những chiếc Tháp. (Trong cờ Vua người ta gọi là quân Xe vì nó nước đi giống như nước đi của quân Xe ở cờ Tướng, nhưng tên đúng của nó là Tháp, hoặc là Thành). Còn voi thì ở Trung Á không có nên họ thay quân Tượng bằng quân khác (ở ta gọi là quân Tượng chỉ vì nó có nước đi chéo giống như Tượng trong cờ Tướng) Cũng nói thêm là khi Saturanga sang đến Trung Hoa thì xuất hiện thêm một quân mới là quân Pháo, lúc đấu là loại “pháo” bắn bằng đá nên chữ Pháo có bộ “Thạch” nằm phía trước, sau này khi pháo dùng thuốc nổ thì người ta đổi bộ “thạch” thành bộ “hoả”. Như vậy Saturanga đến những vùng đất mới nó lại có được những cải tiến thích ứng với quan niệm về thể chế và binh nghiệp tại nơi đó.

 Ở Trung Á người ta đã cải tiến một bước, cờ trở nên gọn nhẹ, linh hoạt và có được những luật chơi ban đầu; điều đó cũng giống như người ta tìm ra được công thức tính diện tích hình tròn. Ngày nay, mỗi học sinh phổ thông đều biết tính diện tích hình tròn bằng công thức đơn giản : S =pR2. trong đó R là bán kính hình tròn. Thủa xưa công thức tính diện tích hình tròn dài lê thê, mô tả đến mấy trang, chữ viết dày đặc, đọc vỡ đầu chưa chắc đã hiểu được, bởi vì thời đó người ta chưa có khái niệm về số p (số pi).

Từ lúc nào thì các qui ước về luật chơi cờ Vua được hình thành gần giống với luật cờ hiện đại ? Theo các nhà nghiên cứu về cờ thì đó là vào cuối thế kỷ 15,đầu thế kỷ 16. Ta cũng nên lưu ý rằng cờ cũng thuộc lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, cho nên nó cũng nẩy nở và phát triển trên mảnh đất nào thấm đượm tính nhân văn của một nền văn hóa phát triển cao. Một nhà sử học người Anh đã định nghĩa về cờ Vua như sau: “Đó là cuộc trò chuyện thân thiết không lời, là hoạt động khẩn trương và căng thẳng trong im lặng. Đó là thắng lợi huy hoàng và cũng là những tấn bi kịch. Là sự hy vọng và nản lòng. Đó là khúc trường ca và cũng là một khoa học. Đó là Phương Đông cổ xưa và Châu Âu hiện đại. Tất cả liên kết với nhau thành một thể thống nhất trên 64 ô vuông.”

Ngay từ thời bấy giờ người ta đã quan niệm trò chơi này như một công cụ của lòng nhân đạo và sự văn minh, bởi vì nó làm cho các hiệp sĩ xao lãng việc chém giết, đổ máu ngoài chiến trường.

Do đó, cũng dễ giải thích tại sao khi Italia và Tây Ban Nha được chiếu sáng bằng ánh sáng của nền văn hóa Phục hưng: những tượng đá hoa cương hùng vĩ của Mikenlang Gielo, những tranh tường kỳ diệu và lộng lẫy của Leona de Vinci, những bức họa huyền ảo kiệt xuất của Raphaen hay hình tượng muôn thuở của hiệp sĩ Đông Kisốt với những chiếc cối xay gió bước ra từ những trang sách của Xervantes, thì cờ Vua ở những nơi đó cũng đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật. Chính tại châu Âu, những cải cách lớn về cờ đã xuất hiện. Lần đầu tiên trên bàn cờ xuất hiện hình tượng người phụ nữ, đó là quân Hoàng Hậu thay thế cho quân “cố vấn” ở bên cạnh Vua trước đó. Quân Hoàng Hậu được ban cho quyền hành rộng lớn nhờ các nước đi ngang dọc tung hoành trên khắp bàn cờ. Bởi vào thời phục hưng, mỹ thuật và lòng cao thượng ngự trị khắp nơi nên vai trò của các Quý cô, Quý bà rất được tôn vinh. Có những quy tắc cứng nhắc hạn chế sự sáng tạo trên bàn cờ cũng dần được gỡ bỏ mà điển hình nhất là nước nhập thành độc đáo: chỉ bằng một nước đi mà Vua có thể được đưa ngay vào vị trí an toàn còn Xe, một quân mạnh lập tức được đưa ra tham gia vào trận đánh.Các nhà cải cách lớn về cờ Vua ở các nước này thời bấy giờ là Luxen, Damiano, Rui Lopes. Các tên gọi “Ván cờ Italia”, “Ván cờ Tây Ban Nha” xuất hiện. Đó không phải đơn thuần là tên gọi của một ván cờ mà là những công trình nghiên cứu nghiêm túc đầu tiên về lý thuyết cờ, nhất là đối với lý thuyết ra quân, một vấn đề gây tranh cãi khá nhiều trong thời kỳ này. Họ đã đạt được những thành tựu đáng kể.

  Phật

Tiện đây cũng nói thêm, cờ Vua có lịch sử ngót một nghìn năm trăm năm nên tên gọi các thế cờ cũng mang tính lịch sử. Ví dụ khai cuộc Reti, phòng thủ Aliokhin, phòng thủ Uphimsep, phòng thủ Philido, Hệ thống Trigôrin, trận Tarras, Gambit Xtaunton … đó là những kiểu khai cục mang tên các nhà chơi cờ lỗi lạc qua các thời đại. Một số vùng có các trường phái cờ nổi bật một thời, các phương án khai cục cũng mang tên địa danh như: phòng thủ Ấn Độ cổ, ván cờ Italia, ván cờ Tây Ban Nha hệ thống Seveninghen (tên một thành phố ở Hà Lan), Gambit Buđapet (thủ đô Hungari), phòng thủ Slavơ (tên một dân tộc), phòng thủ Xixili (một hòn đảo của Italia), ngoài ra còn có ván cờ Hungari, ván cờ Anh, phòng thủ Pháp, ván cờ Nga, phòng thủ Hà Lan, phòng thủ Xcanđinavơ … mang tên các quốc gia đã có những đóng góp xứng đáng cho sự phát triển môn thể thao này.

Lại có những phương án khai cục khác được gọi bằng chính tên quân cờ: phòng thủ hai Mã, Gambit cánh Hậu, Gambit cánh Vua, khai cuộc Tượng, khai cuộc ba Mã…)

Tuy nhiên,điểm thiếu sót của các nhà lý thuyết lúc bấy giờ là chưa kịp đề cập đến vị trí then chốt của khu trung tâm. Dù trong lý thuyết lúc đó có đề cập đến những nước đi đầu tiên tới khu trung tâm song mục đích chỉ là để mở đường cho Hoàng Hậu và Tượng nhanh chóng công phá vị trí Vua đối phương. Các nhà cải cách này chủ trương sử dụng những đợt tấn công như vũ bão, có thể thí bỏ hẳn một số quân yếu như Tốt chẳng hạn, để tiến công thẳng vào bắt Vua đối phương. Cách đánh dũng mãnh kiểu hiệp sĩ này thời bấy giờ rất được ưa chuộng, thịnh hành và tồn tại đến vài trăm năm. Cho mãi đến thế kỷ thứ 18, khi được phân tích kỹ càng để chỉ ra được những nhược điểm của nó, cách chơi này mới chấm dứt.

1.2. Các huyền thoại cờ vua thế giới

            1.2.1. Bobby Fischer

            Một thời từng được coi là anh hùng dân tộc và được một số người đánh giá là nhân tài cờ vua của mọi thời đại, chàng trai sinh ra ở Chicago này đã có những phản ứng rất khó hiểu với công chúng, bằng những cử chỉ giận dữ, sự hờn dỗi kéo dài hàng thập kỷ, và những ý kiến rất gay gắt.

            Ba năm sau giành danh hiệu vô địch cờ vua thế giới, Fisher đã trao nó cho nhà vô địch cờ vua Liên Xô Anatoly Karpov, khi từ chối thi đấu bảo vệ danh hiệu của mình.

            Chiến thắng của Fischer trước Spassky đã chấm dứt sự thống trị của hệ thống cờ vua dường như bất khả chiến bại của Liên Xô. Từ cuối những năm 1920 đến 1972, Liên Xô luôn nắm giữ danh hiệu vô địch thế giới, ngoại trừ hai năm.

            Phong cách chơi cờ của Fischer thường rất hiếu chiến. Không giống như nhiều kiện tướng khác, ông luôn luôn cố gắng giành chiến thắng trong mỗi ván cờ, thay vì một ván hòa, thậm chí là ngay cả khi ông chơi với quân đen, không có lợi thế đi trước như quân trắng.

            Fischer nổi tiếng với sự tính toán theo lôgic toán học, chứ không đơn thuần dựa vào trực giác.

Fischer trong mắt các đối thủ 

            Nhà vô địch cờ vua của Liên Xô Spassky từng bị Fisher đánh bại hiện đang sống ở Paris. Spassky có ít điều để nói về đối thủ một thời của mình. Khi được hỏi về cảm giác của ông trước tin Fischer qua đời, Spassky nói: “Thật không may cho ông ấy.”

            Còn nhà cựu vô địch cờ vua thế giới Garry Kasparov ca ngợi Fischer là nhà tiên phong của môn cờ vua: “Chúng ta đã mất một con người lớn”, Kasparov phát biểu tại Mátxcơva. “Ông ấy luôn luôn có một mình… nhưng khi một mình ông ấy đã chứng tỏ rằng con người có khả năng đạt được những tầm cao mới”. Ngoài ra Karpov còn gọi Fischer là “một ông lớn trong làng cờ, với một nhân cách đặc biệt”. Tuy nhiên Karpov cho rằng Fischer đã tránh thi đấu với ông: “Tôi không muốn nói là ông ấy sợ, nhưng ông ấy chắc hẳn đã có cảm giác là ông ấy sẽ thua”.

Nhà vô địch cờ vua Viswanathan Anand gọi Fischer là một người lãng mạn: “Ông ấy đã đánh bại được cả một hệ thống”.

            Kiện tướng cờ vua Nga Mark Taimanov, người đã từng thua Fischer năm 1971 cho biết: “Cả cuộc đời ông ấy bị bàn cờ, cờ vua chi phối, và đó có thể là lý do vì sao ông ấy giỏi đến vậy”. Và Taimanov còn phát hiện ra: “Ông ấy qua đời ở tuổi 64, một con số có tính biểu tượng lớn. Bởi 64 cũng là con số tượng trưng cho bàn cờ”.

Sự nghiệp của Fischer

            Năm 13 tuổi Fischer đã trở thành nhà vô địch cờ vua Mỹ ở cấp thấp. Và năm 14 tuổi, Fischer bảo vệ thành công danh hiệu này. Năm 15 tuổi, Fischer trở thành kiện tướng quốc tế, trong cuộc thi đấu quốc tế đầu tiên của mình ở Yugoslavia. Fischer đã từng liên tục đánh bại 21 kiện tướng, điều mà chưa một người Mỹ nào làm được.

            Khi đã trở nên nổi tiếng, Fischer cũng trở nên khó đoán hơn. Anh đã bỏ dở cuộc chơi chỉ vì lý do đèn không được sáng, hay điều hòa không được tốt.

            Giữa những năm 1960, anh không tham gia hai cuộc xếp loại vô địch thế giới, bởi cho rằng ban tổ chức thiên vị người Nga. Năm 1957, khi nhà tổ chức không đáp ứng yêu cầu về điều kiện điều hòa tốt hơn của anh, Fischer đã giận dữ bỏ dở cuộc thi, và dành thời gian “để suy nghĩ”.

            Rồi Fischer mang tất cả sách vở về cờ vua của mình tới California. Tại đây anh cho biết đã “lên kế hoạch trả thù nếu tôi có quay trở lại”. Và khi luật chơi thay đổi vào năm 1972, Fischer vẫn chứng tỏ được rằng ông luôn luôn chơi tốt.

            Những sự kiện khiến nhà vô địch cờ vua người Mỹ dành những năm tháng cuối đời của mình ở thành phố mà ông đã có chiến thắng vào năm 1972 cũng rất kỳ lạ. Cho tới những năm 1990, được biết Fischer sống dưới những cái tên giả trong các khách sạn rẻ tiền ở Pasadena, ngoại ô của Los Angeles, dựa vào số tiền bán sách ít ỏi.

            Sau khi giành chiến thắng trong trận đấu ở Yugoslav, ông kiếm được 3 triệu USD. Ông đã đi khắp nơi trên thế giới, là nhân vật bị Mỹ truy nã. Sau vụ tấn công 11/9, ông đã “tái xuất” trong một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh Philippine.

            Năm 2004, ông bị giam ở Nhật vì dùng hộ chiếu đã bị thu hồi. Trong thời gian 8 tháng trong tù, Mỹ đã tìm mọi cách để dẫn độ ông về nước nhưng không thành. Tháng 3/2005, Iceland đã đồng ý cho ông tị nạn.

            Một người bạn của Fischer cho biết tháng 10 năm ngoái ông đã được đưa tới bệnh viện. Nhưng vì không tin tưởng các bác sỹ, ông đã về nhà và được bạn bè chăm sóc cho đến khi qua đời.

            Einar Einarsson, người đã đấu tranh để đưa Fischer từ Nhật về Iceland cho biết Fischer thích sống ở Iceland, nhưng đôi lúc, ông vẫn cảm thấy tù túng vì không thể đi đâu được.

            Mặc dù từng được coi như vị “anh hùng” của Mỹ trong trận chiến cờ vua với Boris Spassky dưới thời chiến tranh lạnh năm 1972, nhưng ông lại sống những năm tháng cuối đời như một kẻ đào tẩu tại Iceland. , huyền thoại cờ vua đã qua đời vì đau ốm vào giữa ngày thứ năm 17-1-2008 tại Reykjavik, nơi đã diễn ra trận “quyết chiến” của ông với Boris Spassky 36 năm về trước.

            Một nhà bình luận đã từng nói rằng có một hằng số xuyên suốt cuộc đời Fischer, đó là “cuộc chiến chạy trốn đối với cuộc đua của nhân loại”.

            1.2.2. Mikhail Moiseyevich Botvinnik (tiếng Nga: Михаи́л Моисе́евич Ботви́нник) (17 tháng 8 năm 1911 – 5 tháng 5 năm 1995)

            Ông là một đại kiện tướng quốc tế cờ vua người Nga và là kì thủ duy nhất từng 3 lần vô địch thế giới. Ông sinh ở Kuokkala, gần Vyborg, con của một nha sĩ, được biết đến trong giới cờ vua năm 14 tuổi khi đánh bại nhà vô địch Thế giới người Cuba, José Raúl Capablanca, trong một trận đấu biểu diễn đồng thời (một mình đấu với nhiều kì thủ trên nhiều bàn) của Capablanca.

            Botvinnik là nhà kĩ sư chuyên ngành điện, ông học sau đại học tại Leningrad, và thậm chí lấy bằng tiến sĩ (vào khoảng cuối thập niên 1940). Tuy là kì thủ nghiệp dư nhưng ông tự mình đề ra và tuân thủ chế độ luyện tập môn thể thao trí tuệ này.

            Năm 1948, Khi Alekhine mất đột ngột, các kiện tướng hàng đầu thế giới tham gia một trận đấu để chọn ra nhà vô địch thế giới mới tại Moskva. Bovinnik đã thắng giải đấu này (+10=8–2), đứng trên Smyslov, Keres, Reshevsky và Euwe. để trở thành vua cờ thế giới. Ông giữ danh hiệu vô địch một thời gian gần như liên tục suốt 15 năm (1948 – 1963). Mặc dù có hai lần tạm thời mất danh hiệu này vào tay Smyslov (năm 1957) và Mikhail Tal (năm 1960) nhưng ông đều giành lại ngay các năm sau đó, trước khi bị Petrosyan đánh bại vào năm 1963.

            Botvinnik có khả năng đánh giá cục diện thế cờ, cần mẫn trong phân tích các ván đấu tạm hoãn, với kĩ thuật tàn cuộc xuất sắc; và đặc biệt, những thành công của ông đều từ sự chuẩn bị rất kĩ lưỡng. Botvinnik tự mình đặt ra các chế độ sinh hoạt và rèn luyện thể lực rất đều đặn trước những giải đấu lớn.

            Botvinnik là người đã đưa ra một số lý thuyết mới về cờ vua và các phương pháp huấn luyện cờ vua. Ông đã từng là thầy của Karpov và Kasparov.
Ngày 5-5-1995,Vua Cờ Botvinnik đã ra đi mãi mãi vào cõi vĩnh hằng,hướng thọ 84 tuổi.Ông để lại cho hậu thế cả 1 sự nghiệp lẫy lừng,và để lại cho nhân loại cả môn kho tri thức đồ sộ về Cờ Vua,môn thể thao trí tuệ mà ông luôn yêu thích và gắn cả cuộc đời mình với nó

            1.2.3. Emanuel Lasker 

            Lasker có dáng người tầm thước, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, thưởng có nụ cưới châm biếm trên môi. Trong con người ông kết hợp được một cách hài hoa đặc tính của một nhà khoa học thông minh, lanh lợi với phong cách tươi mát của một nghệ sĩ. Tính cách của ông hấp dẫn mọi người. Đã có nhiều sách viết về ông, song lại không phải viết về những công thức toán học hay tâm lý học mà là viết về sự nghiệp thứ hai của ông chói lọi hơn nhiều – Cờ Vua , sự nghiệp của cả một đời, mà nổi bật nhất là trong 27 năm liền giữ chức vô địch thế giới, điều mà các nhà vô địch từ cổ chí kim chưa ai làm nổi.

  Làm kiếp con mèo là sắp làm kiếp con người

Năm 1894, trận đấu tranh chức vô địch thế giới đầu tiên, Steinitz đã 56 tuổi . Với một phong cách đánh dứt khoát và sắc bén ở tuổi đang sung sức, Lasker đã hạ Steinitz với tỉ số 10-5 đoạt dễ dàng vòng hoa chiến thắng và trở thành nhà vô địch thứ hai thế giới của cờ Vua. Với một tài nghệ phi thường cùng với một sức khỏa dẻo dai, những năm sau đó, cứ mỗi năm lại một lần ông lại đem danh hiệu của mình ra, thách đố với đấu thủ cờ nào kiệt xuất nhất và liên tục giành thắng lợi như chẻ tre.

            Lasker có những quan niệm độc đáo về cờ. Có lần người ta hỏi Rubeinstein (một danh thủ lẫy lừng cùng thời với Lasker): “ Hôm nay ông chơi với ai?” ông trả lời : “Hôm nay tôi chơi quân Trắng chống quân Đen, còn chuyện chơi với ai chả có ý nghĩa gì hết!” . Ngược lại Lasker có một quan điểm khác: “Trong ván cờ, không phải các quân cờ chống chọi nhau, mà là những người đấu trí với nhau” . Trước mỗi trận đấu ông tìm hiểu kỹ càng đối thủ của mình. Ông tâm sự : “Ván cờ là một cuộc đấu có sự tham gia của nhiều yếu tố khác nhau nhất. Bởi vậy hiểu biết những mặt mạnh , mặt yếu của đối thủ là hết sức quan trọng… Biết bao điều bổ ích bạn có thể rút ra được khi họ nghiên cứu đối thủ và các ván cờ của họ”.

            Lasker không ưa cách học vẹt các thế biến khai cuộc . Ông nói: “Biêt cách chơi cờ không phải là công việc của trí nhớ đơn giản. Việc ghi nhớ các thế biến không phải là trọng yếu nhất. Trí nhớ là thứ vũ khí quý báu, không nên phung phí cho những điều vụn vặt. Phải nắm vững phương pháp chơi”.

            Các ván cờ của Lasker thiên biến vạn hóa, không theo một quy luật cứng nhắc nào. Ông đã viết nhiều sách bàn về giai đoạn cờ tàn. Ông đã để lại cho các bạn chơi cờ những lời khuyên chân thành: “Tôi muốn đào tạo các học trò biết cách phê phán các tài liệu. Trong môn cờ, tôi không muốn tặng cho họ các khái niệm trừu tượng hay những luận điểm chung mà là những kiến thức thật sự sinh động. Họ hãy thử thách mình bằng những trậu đấu” .

            Tên tuổi Lasker thật sự chói ngời. Nó gắn liền với cờ Vua trong hàng loạt tên gọi và các phương án khai cuộc, thậm chí cả đòn chiến thuật. Lasker là một tấm gương sáng cho biết bao kỳ thủ trẻ noi theo trên đường đi đến sự nghiệp vinh quang của họ .

            1.2.4. Alekhine – mãi là nhà vô địch

            Đã là trẻ con thì không thể không có đồ chơi. Cậu bé Alekhine cũng lôi các thứ đồ chơi rồi bày ra đủ trò. Song chơi mỗi trò chỉ được ít lâu là cậu thấy chán. Duy chỉ có bàn cờ với 64 ô đen trắng và 32 quân là làm cho cậu chơi mãi vẫn thấy thú vị. Quân đi thiên biến vạn hóa mới thấy hấp dẫn làm sao! Cậu ngồi hàng giờ suy nghĩ tìm ra nước cờ hay rồi tự mỉm cười hài lòng với chính mình. Ở cậu bé trầm tư này, đó có lẽ là trò chơi duy nhất mà cậu thấy thích hợp với mình. Tối đến khi mẹ về, cậu vẫn cứ ngồi lầm lũi ngồi bày các thế cờ để giải, làm bà mẹ cũng tò mò, không khỏi ngạc nhiên.

            Đến 15 tuổi thì Alekhine đã tham gia nhiều cuộc thi đấu quốc tế lớn. Chàng thiếu niên ngồi chơi đàng hoàng với các bậc đàn anh, thậm chí với các bậc chú bác của mình, gây nên sự chú ý to lớn. Đến năm 21 tuổi thì những đấu thủ sừng sỏ lần lượt công nhận tài năng rõ rệt của chàng trai người Nga này. Chàng chỉ còn đứng sau hai người khổng lồ là Lasker và Capablanca.

Alekhine thường nói: “Đấu cờ , trước hết là đặc tính của con người. Mỗi địch thủ đếu có ý chí, có tính toán và mang đầy đủ các đặc tính cá nhân của họ. Chính cờ tạo ra tính cách của con người. Qua sai lần và thất bại, bạn sẽ trở thành một đại kiện tướng xứng đáng. Đối với tôi điều đó hoàn toàn đúng” .

            Đỉnh cao tài năng của Alekhin là trận đấu với Capablanca ở Buenos Aires ngày 16 tháng 9 năm 1927.

            Ngay từ ván đầu tiên, hai bên đã cho công chúng thấy rõ tài nghệ của mình. Capablanca chơi với lòng tự tin vào bản lĩnh của mình còn Alekhine đáp lại bằng quyết tâm chiến thắng cao độ. Chẳng mấy chốc thế trận mỗi lúc một thêm ngoạn mục. Bất thần bằng một nước đi được tính toán chính xác tuyệt đối, Alekhine bắt được một quân và từ đó lợi thế nghiêng về phía ông. Tận dụng lợi thế, bằng những nước tiếp theo không hề lầm lẫn, ông đã kết thúc thắng lợi mở màn ở nước đi thứ 44 .

            Với tài năng xuất chúng của minh, Capablanca đã cân bằng tỷ số 1-1. Alekhin đã đánh bại “huyền thoại về chơi cờ tàn” của Capablanca và nâng tỷ số lên 3-1. Tiếp sau đó là những ván hòa liên tục. Kết thúc ván thứ 68 thì tỷ số là 4-2 nghiêng về phía Alekhine. Ván 29 được các chuyên gia coi là ván lịch sử. Alekhine chỉ cần hòa là nắm chắc òng nguyệt quế . Nhưng thắng lợi ở ván thứ 29 của Capablanca không chỉ làm cho tỷ số 4-3 mà còn đặt Alêkhin vào một thử thách khó khăn về tâm lý.

            Trong ván cuối cùng, ván thứ 34 , đã bộc lộ tài năng tuyệt vời của Alekhine, ông đã chiến thắng khi cờ tàn còn Xe và Chốt. Ván cờ này nhiều năm sau và cho đến nay vẫn được đưa vào các sách giáo khoa làm một ví dụ mẫu mực về cờ tàn.

            Alekhine có một trí nhớ tuyệt vời, ông có thể nhớ không sai tất cả các ván cờ hay của các tay cờ cự phách trong vòng 60-70 năm. Là người chơi cờ “mù” rất giỏi (bịt mắt và tưởng tượng) , Alekhine có thể chơi cùng lúc 32 ván cờ với 32 người khác nhau và thắng tới 30 ván còn lại 2 ván hòa ! Ông kể lại rằng : “Hồi bé, tôi có thói xấu là hay chơi cờ trong giờ học. Một lần bị thầy giáo phát hiện, phạt và thu bàn c ờ, chúng tôi buộc phải đánh tiếp bằng tưởng tượng. Từ đấy , tôi thấy đánh “ mù” ít nguy hiểm hơn (!) và có lợi khi tính toàn trong thi đấu. Kể chuyện này tôi không có ý khuyên các bạn nên làm điều xấu. Song nếu thuộc bàn cờ thì rất có lợi”.

Song cũng không nên cho rằng Alekhine không có sở thích gì ngoài đánh cờ. Ông là người biết thông thạo nhiều ngoại ngữ, đọc nhiều sách văn học, đồng thời lại là người sành âm nhạc và am hiểu hội họa. Ngoài cờ, ông ham thích bơi lội, chơi quần vợt và đua xe đạp.

            Đêm 25 tháng 3 năm 1946 ông mất đột ngột tại Paris. Cái chết bí hiểm của ông được giải thích do bệnh tim. Tấm ảnh cuối cùng còn chụp được khi ông chết cho thấy ông đang ngồi dựa trong chiếc ghế bành, bên cạnh là những quyển sách và phía trước ông, trong rất rõ là một bàn cờ có đủ 32 quân. Ông ngồi đó, mắt nhắm lại như đang suy nghĩ, có lẽ ông đang nghĩ về một thế cờ ở tàn cuộc hay một biến khai cuộc hoàn toàn mới?

            Alekhine đã trở thành bất tử trong lịch sử cờ Vua. Ông là nhà vô địch duy nhất không bị hạ bệ. Khi vẫn còn đang khoác vòng nguyệt quế vinh quang, ông đã ra đi vĩnh viễn trong niềm thương tiếc của bao người. Alekhine, tên ông được gắn liền với nhiều ván cờ được coi là giáo khoa mẫu mực. Tên ông được lập đi lập lại trong biết bao thế cờ xuất sắc tuyệt diệu, có cả khai cuộc mang tên Alekhine. Các tài liệu cờ , các sách giào khoa đều nhắc đến ông.

            Alekhine là thần tượng của hàng triệu đấu thủ trẻ. “Huyền thoại Alekhine” vẫn mãi làm mọi người rung động và mến phục.

            Liên đoàn Cờ Việt Nam (tiền thân là hội Cờ Tướng Việt Nam) được thành lập ngày 14/02/1965 tại Nhà khai trí kiến thức (nay là Trung tâm phương pháp Câu lạc bộ – 14 Lê Thái – Tổ Hà Nội) do bác sĩ Lê Đình Thám là Chủ tịch Uỷ ban hoà bình Việt Nam, Uỷ viên Uỷ ban hoà bình thế giới làm Hội trưởng. Trong hoàn cảnh chiến tranh chống đế quốc Mỹ, Hội Cờ tướng Việt Nam đã tổ chức được 3 giải vô địch toàn miền Bắc và mời đoàn Cờ Tướng Trung Quốc sang thi đấu hữu nghị. Sau này, vì không đủ điều kiện nên chỉ tổ chức được những giải nhỏ ở Hà Nội. Năm 1975, Hội Cờ gần như không còn hoạt động, duy nhất chỉ còn ông Lê Uy Vệ, còn những người khác, người thì chuyển công tác, người thì nghỉ hưu nên đã giải thể. Tháng 8 năm 1976, Việt Nam nhận được thư mời tham dự cuộc thi đấu Cờ Vua tổ chức tại thành phố Tôvipôli (thủ đô Libi) do Liên đoàn Cờ của các nước Ả Rập tổ chức và Libi là nước đăng cai. Ở Việt Nam thời gian này, Cờ Vua chưa phát triển, chỉ có một số người chơi ở một vài thành phố. Với sự ghi nhận về tương lai phát triển môn Cờ Vua ở Việt Nam, Tổng cục TDTT đã cử một đoàn đến tham dự với tư cách là quan sát viên. Đại hội lần này có 44 nước tham gia với đủ các thành phần lứa tuổi nam, nữ, có VĐV nữ 13 – 14 tuổi, có vị là nghị sỹ quốc hội ở tuổi 60.

Năm 1978 Tổng cục TDTT đã ra chỉ thị số 73/CT để hướng dẫn phong trào Cờ Vua rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân, nhất là đối với thanh thiếu niên, học sinh.

Ngày 05/08/1980 Bộ Giáo dục đã ra văn bản số 1787/TDQS về việc chính thức đưa Cờ Vua vào giảng dạy trong các trường phổ thông, các trường Cao đẳng, Đại học sư phạm và trường Đại học TDTT trên phạm vi toàn quốc.

Ngày 15/12/1980, Hội Cờ được thành lập lại, lấy tên là Hội Cờ Việt Nam do ông Hồ Trúc, Thứ trưởng Bộ Giáo dục làm Hội trưởng. Trước bối cảnh mới, Hội đã mạnh dạn đưa môn Cờ Vua vào Việt Nam và thực tế đã chứng minh cho quyết định sáng suốt đó: Cờ Vua Việt Nam bước đầu đã phát triển sâu, rộng ở mọi đối tượng trong xã hội.

Nước ta có nhiều môn thể đang được phát triển, giờ đây lại được bổ sung thêm một môn thể thao mới thì hoạt động TDTT càng thêm phong phú, đa dạng. Cờ Vua góp phần đáng kể vào các sinh hoạt văn hóa lành mạnh của quần chúng nhân dân và góp phần xây dựng con người mới Xã hội chủ nghĩa.

Tháng 10/1984, Hội Cờ Việt Nam chính thức là thành viên của Liên đoàn Cờ châu Á và năm 1988, Việt Nam được chính thức công nhận là thành viên của Liên đoàn Cờ Vua thế giới (FIDE). Cuối năm 1991, Hội Cờ tổ chức Đại hội toàn quốc lần II và đổi tên thành Liên đoàn Cờ Việt Nam do ông Nguyễn Hữu Thọ, Tổng biên tập báo Nhân Dân làm Chủ tịch. Cũng từ Đại hội này, môn Cờ Tướng được đưa vào thi đấu. Như vậy, quá trình tồn tại và phát triển của Liên đoàn Cờ Việt Nam đã có một bề dày thời gian và lịch sử hào hùng, tuy bước hội nhập của môn Cờ vào làng Cờ khu vực và thế giới còn ngắn ngủi (Cờ Vua năm 1988, Cờ Tướng năm 1993), nhưng Liên đoàn Cờ Việt Nam đã đóng góp cho làng Cờ khu vực và thế giới 18 Kiện tướng FIDE, Kiện tướng quốc tế, và 2 Đại kiện tướng…

  Thiên Chúa giáo

Hiện tại, Liên đoàn mới đưa thêm môn Cờ Vây vào Việt Nam, và đã tổ chức được một lớp HLV cho các địa phương. Bộ môn mới mẻ này bước đầu đã có những tín hiệu đáng mừng, đặc biệt ở hai thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Với những bối cảnh như vậy, Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Liên đoàn Cờ Việt Nam đã được tổ chức vào ngày 28/09/1997 và ông Nguyễn Minh Hiển – Uỷ viên Trung ương Đảng – Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo được bầu làm Chủ tịch Liên đoàn Cờ Việt Nam. Đại hội đã tổng kết và đề ra phương hướng hoạt động đổi mới nhằm đẩy mạnh sự phát triển môn Cờ Vua, Cờ Tướng nước ta trong giai đoạn mới.

Sau 5 năm phát triển (1990 – 1995), đã có 20 ngành, địa phương xây dựng được phong trào ở môn thể thao này. Khi đó, có một số địa phương đã đưa môn Cờ Vua vào chương trình hoạt động của các trường và tổ chức đào tạo VĐV Cờ Vua ở một số trường năng khiếu TDTT cơ sở. Từ đó, Hội Cờ Việt Nam (sau này là Liên đoàn Cờ Việt Nam), tổ chức đều đặn giải vô địch toàn quốc hàng năm cho thanh thiếu niên, học sinh và người lớn. Năm 1980, tại giải vô địch toàn quốc được tổ chức ở Hà Nội đã áp dụng luật thi đấu của FIDE và ở các tỉnh, thành đều có tổ chức thi đấu xếp hạng để tuyển chọn VĐV, đặc biệt là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức thi đấu cho nữ thanh niên. Những năm gần đây, phong trào Cờ Vua phát triển rất mạnh mẽ trên phạm vi toàn quốc. Nhiều nơi phong trào đã biểu hiện chiều sâu với hàng loạt trung tâm Cờ Vua được thành lập và tổ chức hoạt động như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Thanh Hóa, Đồng Tháp…

Hàng năm, giải Cờ Vua cho các đối tượng được tổ chức rộng rãi. Đỉnh cao về qui mô phong trào là các giải Cờ Vua A1, A2, giải các đấu thủ mạnh, cũng như giải Cờ Vua cho học sinh, sinh viên được tổ chức định kỳ và đặc biệt giải Cờ Vua trong khuôn khổ Hội khỏe phù đổng II (1992), Hội khỏe phù đổng III (1996), mỗi giải đều có trên 500 VĐV nam nữ tham gia. Ngoài các giải trong nước, đội tuyển Cờ Vua quốc gia với các lứa tuổi đã được hình thành thông qua các giải toàn quốc. Các đội tuyển đó thường xuyên tham dự các giải thi đấu quốc tế và đã gặt hái được không ít những thành công: Đạt 4 huy chương vàng lứa tuổi từ 12 đến dưới 20 và được FIDE phong cấp Đại kiện tướng thế giới cho 2 VĐV, cùng với gần 20 VĐV khác đạt danh hiệu Kiện tướng thế giới, Kiện tướng FIDE. Gần đây nhất tại các giải vô địch Cờ Vua châu Á, giải trẻ thế giới, các VĐV Việt Nam một lần nữa lại chứng tỏ được khả năng và trình độ của mình trong môn thể thao này.

Cờ vua là gì? Hướng dẫn cách chơi cờ vua cơ bản

Bên cạnh cờ vây, cờ tướng… cờ vua là một môn thể thao trí tuệ được rất nhiều người trên thế giới yêu thích. Trò chơi có tác dụng thư giãn nhẹ nhàng, tăng khả năng tư duy và phù hợp với mọi lứa tuổi.

Cờ vua là gì?

Cờ vua là một trò chơi giữa hai kỳ thủ sử dụng trí tuệ của mình kết hợp với chiến thuật hợp lý để đạt được mục đích cuối cùng là ăn quân Vua của đối phương. Bên cạnh đó, bạn cũng phải tìm cách bảo vệ quân Vua của mình không bị bắt. Để thực hiện được mục tiêu này, người chơi cần bắt càng nhiều quân đối phương càng tốt hoặc ngăn đối phương ăn quân của bên mình.

Mỗi quân cờ vua có phải đi theo đúng phương thức mà trò chơi đã quy định kèm theo vô vàn luật lệ mà những người mới chơi không thể thấy trước hay hiểu được lúc bắt đầu. Cho nên, các bạn hãy thật kiên nhẫn bởi càng chơi bạn sẽ nhận ra điểm thú vị đặc biệt của bộ môn này đó.

Giới thiệu về bàn cờ vua và quân cờ

Bàn cờ vua

Bàn cờ vua có hình vuông chia ra thành 64 ô vuông nhỏ gồm 32 ô trắng và 32 ô đen sắp xếp xen kẽ nhau. Các ô ngang được đánh dấu bằng chữ cái từ A đến H, ô dọc đánh dấu bằng số từ 1 đến 8.

Quân cờ

Các quân cờ có màu đen và màu trắng tương ứng với quân hai bên của người chơi. Mỗi quân cơ sẽ có cách phân biệt bằng tên và hình dáng với hướng di chuyển riêng. Cụ thể như sau:

  • Tốt: Mỗi bên sẽ có 8 quân tốt và đây là quân cờ cơ bản nhất trong cờ vua. Trong lần di chuyển đầu tiên, Tốt được quyền di chuyên lên phía trước 1 hoặc 2 ô. Nhưng những nước đi sau đó chỉ được tiến lên 1 ô. Quân này chỉ được tấn công các quân khác nếu nằm chéo về phía trước 1 ô và không thể đi lùi.
  • Xe: Xe trông giống như một tòa tháp trong lâu đài và mỗi bên có 2 quân Xe. Quân này được phép di chuyển ngang hoặc dọc với điều kiện không có quân cờ khác cản được đi tới vị trí mong muốn. Xe có thể tấn công và ăn quân khác nằm trên đường đi của nó.
  • Mã: Chúng ta không khó để nhận biết quân Mã bởi nó có biểu tượng hình con ngựa. Nước đi của quân Mã khá phức tạp. Mã đi theo hình chữ “L” tạo từ 2 ô ngang và 1 ô dọc hoặc 2 ô dọc và 1 ô ngang di chuyển theo mọi hướng tùy thích. Đặc biệt, Mã là quân cờ duy nhất có thể nhảy qua những quân khác. Nó chỉ có thể tấn công các quân khác nằm trong ô mà nó nhảy tới.
  • Tượng: Tượng có hình như chiếc mũ của giám mục Thiên Chúa Giáo. Ưu điểm của tượng chính là di chuyển theo đường chéo bao nhiêu ô tùy thích chỉ cần không bị quân cơ khác cản.
  • Hậu: Có thể nói, Hậu là quân cờ quyền lực nhất trên bàn cờ, thường có hình vương miện nữ tính hơn quân Vua. Quân Hậu có thể di chuyển ngang, dọc và chéo tùy ý và có thể tấn công theo mọi hướng.
  • Vua: Vua chỉ có thể di chuyển mỗi ô một nước theo mọi hướng và cách tấn công cũng tương tự như vậy. Đây cũng là quân cờ mà bằng mọi giá bạn phải bảo vệ, không thể để mất. Nếu mất quân cờ này đồng nghĩa với việc bạn sẽ thua cuộc.

Cách sắp xếp bàn cờ vua

Sau khi đã nhận biết và làm quen với các quân cờ, bạn hãy sắp xếp chúng vào bàn cờ để có thể bắt đầu ván đấu. Đặt bàn cờ sao cho ô cuối cùng ở mỗi bên có màu trắng. Cách sắp xếp quân cờ như sau:

  • Đặt tất cả quân Tốt vào hàng thứ 2 ở trước mặt tạo nên một “bức tường” ngăn cách giữa các quân cờ khác của bên bạn và đối thủ.
  • Xếp quân Xe vào góc bàn cờ ở bên bạn.
  • Đặt mỗi quân Mã bên cạnh một quân Xe và quân Tượng nằm bên cạnh quân Mã.
  • Đặt quân Hậu vào 1 trong 2 ô còn lại ở hàng thứ nhất tùy vào màu của quân đó. Với quân Hậu đen thì đặt nó vào ô đen và quân Hậu trắng vào ô trắng.
  • Cuối cùng, bạn hãy đặt quân Vua vào ô còn lại. Sau đó, kiểm tra lại bố cục của các quân cờ bên đối phương có giống như vậy không. Hai quân Hậu và Vua ở hai bên phải đối diện nhau.

Luật chơi cờ vua cơ bản

  • Sau khi sắp xếp bàn cờ xong, hai kỳ thủ sẽ tiến hành di chuyển luân phiên các quân cờ theo hướng đi đã quy định ở phía trên khi đến lượt đánh của mình.
  • Mục tiêu cuối cùng của hai bên người chơi đó là ăn quân Vua của đối phương. Nước đi khiến quân Vua phải né, chạy trốn được gọi là “chiếu tướng”. Bên nào chặn được hết đường chạy của Vua thì sẽ thắng.
  • Trong trường hợp hai bên không còn thêm nước đi nào thì sẽ xử hòa.
  • Khi bạn di chuyển quân cờ tới ô khác mà ô đó đang có quân cờ ở phía đối thủ đứng thì người chơi có quyền ăn quân đó.

Trên đây là những thông tin cơ bản nhất về bộ môn cờ vua mà chúng tôi muốn gửi tới các bạn. Trong từng tình huống cụ thể, bạn phải linh hoạt nước đi của mình để ứng phó lại chiến thuật của đối phương, đồng thời phát triển các nước cờ của mình.

10 nguyên tắc trong khai cuộc cờ vua

Phát triển quân là nguyên tắc quan trọng nhất trong khai cuộc cờ vua, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề khác kỳ thủ cần dè chừng.

Ba nguyên tắc đầu tiên đều nhấn mạnh vào một điểm, đó là phát triển quân, theo video từ Chess.com. Bởi lời khuyên quan trọng bậc nhất trong cờ vua là tận dụng hết sức mạnh của các quân cờ.

Các nguyên tắc còn lại là đừng đi một quân hai lần trong khai cuộc, nhập thành sớm, đừng đưa hậu ra trận sớm, nghĩ tới mối đe dọa của đối phương, phát triển quân với một mục đích rõ ràng và liên kết hai xe.

Người mới học chơi cờ cần chú ý đến các nguyên tắc này, hiểu được mục đích của các khai cuộc. Còn những cao thủ sẽ ghi nhớ nhiều khai cuộc để ứng phó với đối phương, và giảm thời gian tính toán trong những nước đầu tiên. Theo Oxford Companion, có 1.327 khai cuộc đã được đặt tên và các biến thể của nó.

Nhưng không phải lúc nào cũng tuân thủ các nguyên tắc. Yếu tố tiên quyết là phân tích mối nguy hiểm từ nước đi mà đối thủ tạo ra. Nếu đối thủ mắc sai lầm, chúng ta có thể phá bỏ quy tắc để trừng phạt họ.

Đòn phối hợp nào mạnh nhất trong cờ vua?

Nước chiếu đôi được coi là chiến thuật mạnh nhất trong cờ vua, khi nó buộc vua đối thủ phải di chuyển.

Chiến thuật và chiến lược cờ vua
Video trên từ Chess.com nêu những chiến thuật và chiến lược cơ bản cho người chơi cờ sau khi học các nước đi. Chiến thuật chiếm 90% giá trị trong cờ vua, nhưng chiến lược lại là bàn đạp để phát hiện ra các đòn phối hợp.

Phổ biến nhất là đòn bắt đôi, tức là di chuyển một quân để cùng lúc tấn công ít nhất hai quân của đối thủ. Tuy nhiên, đòn này chỉ hiệu quả khi đối phương không bắt lại được quân ta.

Tiếp theo là đòn ghim. Sự lợi hại của đòn này là khi ta tấn công, quân đối thủ không thể hoặc không nên di chuyển vì sẽ mất quân quan trọng hơn. Ngược lại là đòn xiên. Đó là khi ta tấn công một quân giá trị, buộc đối thủ phải di chuyển để sau đó ta bắt quân khác.

Tuy nhiên, mạnh nhất vẫn là đòn chiếu đôi. Khi đó, hai quân ta cùng lúc chiếu vua đối phương. Không còn cách nào khác, đối phương phải chạy khỏi vị trí bị chiếu vì không thể cùng lúc che chắn cả hai đường chiếu hoặc tiêu diệt cả hai quân đang chiếu.

Súng trường tấn công AK-19 của Nga

Kalashnikov hy vọng AK-19 sẽ tạo được dấu ấn trên thị trường súng trường tấn công toàn cầu ở các nước đang phát triển nhằm lấn át các nhà sản xuất súng phương Tây.

Theo thông báo, Công ty sản xuất súng Kalashnikov trực thuộc Tập đoàn Nhà nước Rostec của Nga sẽ giới thiệu loại súng trường tấn công AK-19 5,56 mm mới nhất của mình tại triển lãm vũ khí lớn nhất Trung Đông – IDEX 2021.

Kalashnikov cho biết, dòng súng trường tấn công mới nhất của họ đã thu hút được sự quan tâm lớn của các khách hàng ở Trung Đông, những nước vẫn sử dụng loại đạn tiêu chuẩn 5,56 × 45 mm.

“Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm và nhiều bụi, AK-19 sẽ phát huy được hiệu quả sử dụng mọi thời điểm, bay ngày hay ban đêm, hoạt động đáng tin cậy và nhận được quy trình bảo trì chu đáo,” thông báo của Kalashnikov cho hay.

Dmitry Tarasov, Tổng giám đốc của Kalashnikov nói rằng công ty hy vọng biến thể mới của họ sẽ đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu.

“AK-19 sử dụng loại đạn 5,56 × 45 mm đã được NATO chấp thuận và sử dụng rộng rãi trên thế giới. Vì vậy, dòng súng trường tấn công mới nhất của chúng tôi được thiết kế để hướng đến thị trường nước ngoài”.

“Giới thiệu AK-19 tại triển lãm vũ khí quốc tế lớn nhất IDEX 2021, chúng tôi chắc chắn sẽ nhận được sự quan tâm lớn từ phía các khách hàng nước ngoài”.

  Phật Mẫu Man Nương

Hãy quên AK-47 đi, súng trường tấn công AK-19 của Nga mới là “đẳng cấp”! – Ảnh 1.
AK-19 là một biến thể mới của AK-12, đã có mặt trong Lực lượng vũ trang Nga từ năm 2019.

Là biến thể súng trường tấn công hạng nhẹ được thiết kế dựa trên mẫu AK-12, chính thức biên chế cho các lực lượng vũ trang Nga kể từ năm 2019, AK-19 có báng súng gọn nhẹ với công thái học được cải tiến, trang bị một ống ngắm phía sau mới và một bộ hãm thanh tiên tiến, chiều dài nòng 415 mm và trọng lượng 3.350 gram.

Súng trường tấn công AK-19 sử dụng báng gấp trọng lượng nhẹ, thước ngắm cơ khí kiểu mới và loa che lửa có thể gắn nòng giảm thanh. AK-19 có dáng dấp hiện đại giống với các mẫu súng trường tấn công hàng đầu của phương Tây.

Mẫu súng AK-19 mới sở hữu tính năng tương tự như AK-12 với tầm bắn 440 m và ba chế độ bắn, gồm bắn phát một, bắn loạt hai viên và bắn liên thanh.

AK là dòng súng trường tấn công phổ biến hàng đầu thế giới, với khoảng 200 triệu khẩu đang được sử dụng. AK-47, phiên bản đầu tiên do tổng công trình sư Mikhail Kalashnikov thiết kế, đã được Hồng quân Liên Xô sử dụng từ năm 1949-1974.

Cho tới nay, Nga vẫn chưa mấy thành công với các phiên bản AK hậu Liên Xô vì vậy với việc cho ra mắt mẫu AK-19 mới, Nga hy vọng chúng sẽ tiếp tục viết tiếp những trang sử hào hùng của dòng AK huyền thoại.

  Bước đầu tìm hiểu về sự ra đời và phát triển dòng tu đạo Công giáo

Kalashnikov hy vọng AK-19 sẽ tạo được dấu ấn trên thị trường súng trường tấn công toàn cầu ở các nước đang phát triển nhằm lấn át các nhà sản xuất súng phương Tây.

Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi nhà sản xuất súng của Nga quyết định chọn IDEX, triển lãm quốc phòng hàng đầu ở Trung Đông để quảng bá cho sản phẩm cải tiến mới nhất của mình ra thị trường toàn cầu.

Chè shan tuyết cổ

Dù giá bán cao ngất ngưởng, loại chè này vẫn được nhiều người tìm kiếm, gần Tết mặt hàng này còn “cháy”, khách muốn mua đều phải đặt trước.

Loại chè đặc sản này được lấy từ cây chè shan tuyết cổ, có tuổi đời khoảng vài trăm năm. Theo chị Việt Hà – một nhân viên của cơ sở sản xuất chè Shan tuyết cố, cây chè này một năm thường ra búp vào 4 vụ nhưng chỉ có 2 vụ chính nhiều trà vào đầu năm. Cơ sở sản xuất chè Shan tuyết của chị sẽ thu mua tất cả các tháng trong năm nhưng chỉ bán vào dịp cuối năm.

“Vì số lượng chè Shan tuyết chưa đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước nên tôi chỉ bán để làm quà tặng, biếu vào dịp Tết. Dù vậy, loại chè này chưa năm nào có đủ để bán cho khách, mọi người chủ yếu đều phải đặt trước và ký kết hợp đồng mới có hàng”, chị cho hay.

Người dân phải trèo lên cây cao để hái chè.

Người dân thu hái rồi bán lại cho các cơ sở sản xuất chè.

Riêng năm nay, cơ sở sản xuất chè của chị Hà đã chuẩn bị khoảng 20 tấn phục vụ khách hàng trong dịp Tết này. Và công ty của chị cũng nhận được rất nhiều đơn đặt hàng từ các công ty, doanh nghiệp, cá nhân đặt làm quà tặng Tết cho đối tác, gia đình, nhân viên…

  Phật

Theo đó, chè Shan tuyết cổ có nhiều phân khúc giá phục vụ khách hàng từ uống phổ thông hàng ngày, làm nguyên liệu pha chế đến sản phẩm cao cấp dành làm quà biếu tặng phục vụ cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Giá thấp nhất khoảng hơn 700.000 đồng/kg, cao nhất là trà sen giá khoảng 25 triệu đồng/kg. Và giá của các loại trà này đều giữ vững, không biến động nhiều qua nhiều năm.

Với mong muốn làm ra chè chất lượng nhất, cơ sở sản xuất chè của chị Hà thu mua tất cả lượng chè tươi của 2 vùng Tà Xùa (Sơn La) và Suối Giàng (Yên Bái). Vì hai vùng này sẽ làm ra chè có vị ngon nhất. Theo đó, người dân ở 2 vùng này đều được hướng dẫn cách thu hái để 100% sản lượng đạt tiêu chuẩn chế biến trà cao cấp. Ngoài ra, cơ sở sản xuất chè của chị còn hỗ trợ người dân mở rộng diện tích trồng chè Shan tuyết để có thể đáp ứng nhu cầu thị trường trong tương lai.

Chè Shan tuyết có cách làm riêng để giữ nguyên được hương vị đặc trưng của nó.

Trên thị trường, chè Shan tuyết có đủ 4 dòng của thế giới trà: Trà xanh, hồng trà, bạch trà và Trà ép bánh, với mỗi một dòng sẽ có quy trình chế biến khác nhau. Trong đó, trà ép thành bánh đòi hỏi kỹ thuật cao nhất và không phải ai cũng làm được.

  Bước đầu tìm hiểu về sự ra đời và phát triển dòng tu đạo Công giáo

Chị Hà cho biết trà shan tuyết cổ thụ tự nhiên có nội chất rất mạnh nên có thể pha được từ 10 đến 20 lần nước tùy theo dòng trà và dòng sản phẩm. Khi pha trà cần lưu ý không ngâm trà lâu quá 30 giây trong nước thì sẽ lấy được hương vị nội chất tinh tuý của trà.

Chè được ép thành bánh để bán cho khách hàng.

Dù giá chè cao, mặt hàng này vẫn không đủ cung cấp vào dịp Tết.

Theo tìm hiểu, đây là loại chè đặc sản Việt Nam có búp to màu trắng xám, dưới lá chè có phủ một lớp lông tơ mịn, trắng nên người dân gọi là chè tuyết. Chè Shan tuyết có mùi thơm dịu, nước vàng sánh màu mật ong. Chè được chế biến theo phương pháp thủ công của người dân tộc Tày, Mông, Dao.

Để hái chè, người dân phải trèo lên những cây chè cao, có độ tuổi lên đến vài trăm năm. Thông thường, cây chè này được canh tác hoàn toàn tự nhiên, không sử dụng bất cứhóa chất hay phân bón gì nên được xem là chè sạch. Và chúng có nhiều ở các tỉnh Hà Giang, Bắc Kạn, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái

Nhưng chè có vị ngon nhất ở Tà Xùa (Sơn La) hay Suối Giàng (Yên Bái). Nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng hàm lượng chất chống ung thư trong trà Shan Việt cao gấp 11 lần trà xanh tốt nhất của Nhật Bản.

  Nhiên Đăng Cổ Phật