20 C
hanoi
Thứ Sáu, Tháng Ba 5, 2021

Kinh Thánh (hoặc Thánh Kinh; từ gốc tiếng Hy Lạp: τὰ βιβλία, tà biblía, “quyển sách”) là từ ngữ để chỉ các văn bản thiêng liêng của nhiều niềm tin khác nhau, nhưng thường là từ các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham. Do Thái giáo vàKitô giáo chia sẻ cùng một thuật ngữ “Kinh Thánh”, mặc dù giữa họ không đồng nhất về số lượng sách. Quy điển Kinh Thánh là cách thức tuyển chọn và công nhận sách nào được cho là thiêng liêng. Các văn bản này thường được viết trong giai đoạn hình thành của các niềm tin Do Thái giáo và Kitô giáo; những người lãnh đạo của các cộng đồng này tin đây là các sách được linh truyền từ Thiên Chúa để thể hiện lịch sử uy quyền của mối liên hệ giữa Thiên Chúa và dân của ngài.

Người Do Thái gọi Kinh Thánh của họ là Tanakh, gồm 24 quyển, chia làm 3 phần: Sách Luật Giao Ước (Torah), Sách Ngôn Sứ (Nevi’im) và Sách Văn Chương (Ketuvim).

Kinh Thánh Kitô giáo gồm Cựu Ước (nghĩa là “Giao ước cũ”) và Tân Ước (nghĩa là “Giao ước mới”). Cựu Ước là phần kế thừa từ Tanakh, được chia thành các nhóm sách: Ngũ Thư, Lịch sử, Ngôn SứGiáo Huấn; còn Tân Ước là các văn bản do các môn đệ của Chúa Giêsu (và những người thừa kế họ) viết ra với nội dung liên quan đến cuộc đời ông.Tân Ước gồm 27 quyển, số lượng này được cố định vào thế kỷ thứ 4 và được hầu hết các giáo hội Kitô giáo chấp nhận. Chúng bao gồm sách Phúc Âm, sách Công vụ Tông đồ, các thư của Phaolô, các thư của các sứ đồ khác và sách Khải Huyền.

Tanakh gồm 24 quyển, nhưng các nhóm Kháng Cách tính thành 39 quyển. Giáo hội Công giáo và các giáo hội Kitô khác có thêm một số sách trong Cựu Ước, lấy từ Bản Bảy Mươi (Septuaginta) của Do Thái vì họ giữ các sách này lại sau khi chúng bị những người Cải cách Kháng Cách (Tin Lành) loại bỏ.

Kinh Thánh là bộ sách bán chạy nhất mọi thời đại,[1][2] ước tính mỗi năm có thêm 100 triệu bản,[3][4] và nó đã gây sức ảnh hưởng lớn về văn học và lịch sử, đặc biệt là ở phương Tây, nơi mà nó là sách đầu tiên được in hàng loạt.

Kinh Thánh có lẽ là bộ sách gây ảnh hưởng nhiều nhất trong lịch sử loài người. Số bản in Kinh Thánh vượt mọi sách khác. Kinh Thánh Hebrew giáo cũng như Kinh Thánh Kitô giáo được dịch nhiều lần, sang nhiều ngôn ngữ hơn bất cứ sách nào khác. Kinh Thánh trọn bộ, hoặc một phần, đã được dịch sang hơn 2.100 ngôn ngữ của 90% dân số thế giới. Kể từ năm 1815, ước tính có khoảng hơn 5 tỉ ấn bản Kinh Thánh trọn bộ hoặc các phần quan trọng của Kinh Thánh được phân phối, trở nên sách bán chạy nhất trong mọi thời đại.

Thuật ngữ “Kinh Thánh” cũng được dùng cho các văn bản thiêng liêng của các niềm tin không Do Thái và không Ki-tô; vì vậy Guru Granth Sahib thường được dùng để chỉ “Kinh Thánh Sikh”.

Nhiều nhà giáo dục thấy rằng Kinh Thánh Ki-tô giáo đã ăn rễ vững chắc vào văn hoá phương Tây đến nỗi “bất cứ ai, dù có niềm tin hay không, nếu không quen thuộc với các giá trị và giáo huấn của Kinh Thánh sẽ trở nên dốt nát về văn hoá.”[5]

Từ “kinh Thánh” trong tiếng Hy Lạp là βιβλια (biblia), nghĩa là “sách”, từ này lại có nguồn gốc từ βυβλος (byblos) có nghĩa “giấy cói” (papyrus), từ tên của thành phốByblos xứ Phenicie (Phoenicia) cổ đại, là nơi xuất khẩu giấy cói.

Kinh Thánh Hebrew

Kinh Thánh Hebrew (còn gọi là Kinh Thánh Hebrew giáo, hoặc Tanakh trong tiếng Do Thái) có 24 sách. Tanakh là chữ viết tắt của ba phần trong Kinh Thánh Hebrew: Torah (Luật, Ngũ Thư hoặc Ngũ Kinh), Nevi’im (Ngôn sứ hoặc Tiên tri), và Ketuvim (Văn chương). Kinh Thánh có khoảng 160.764 từ.

Ngũ Thư của Moses

Torah hoặc “Giáo huấn” được biết đến với tên Ngũ Thư của Moses (Mô-sê hoặc Môi-se trong tiếng Việt), vì vậy còn có tên Chumash hay Pentateuch (tiếng Hebrew hoặc tiếng Hy Lạp nghĩa là “năm”).

Năm sách này là:

  • Sách Sáng Thế hay Sáng Thế ký hay Khởi Nguyên (Bereishit בראשית)
  • Sách Xuất Hành hay Xuất Ê-díp-tô ký (Shemot שמות)
  • Sách Lêvi hay Lê-vi ký (Vayikra ויקרא)
  • Sách Dân số hay Dân số ký (Bemidbar במדבר)
  • Sách Đệ Nhị Luật hay Phục truyền Luật lệ ký hay Thứ Luật (Devarim דברי)

Ngũ Thư hay Torah tập chú vào ba thời điểm làm thay đổi mối quan hệ giữa Thiên Chúa và con người. Mười một chương đầu của Sách Sáng thế cung cấp những ký thuật về sự sáng tạo (hoặc trật tự) của thế giới, và lịch sử của mối tương giao ban đầu giữa Thiên Chúa và loài người.

Ba mươi chín chương còn lại của Sách Sáng thế thuật lại việc thiết lập giao ước giữa Thiên Chúa và các tổ phụ của dân tộc Do Thái như Abraham, Isaac và Jacob (còn gọi là Israel), cùng với dòng dõi của Jacob (“Con dân Israel”), đặc biệt là Joseph, cũng ghi chép về cung cách Thiên Chúa kêu gọi Abraham rời bỏ gia tộc và quê hương ở thành Ur để ra đi, cuối cùng định cư trên đất Canaan, và thuật lại câu chuyện Con dân Israel về sau di cư đến Ai Cập. Bốn sách còn lại của Torah ký thuật cuộc đời của Moses, một hậu duệ sống hàng trăm năm sau các tổ phụ. Các biến cố trong cuộc đời Moses xảy ra cùng lúc với cuộc giải phóng Con dân Israel khỏi ách nô lệ trong xứ Ai Cập, để làm sống lại giao ước giữa họ và Thiên Chúa tại núi Sinai, và về thời kỳ dong ruổi trong hoang mạc cho đến khi một thế hệ mới sẵn sàng tiến vào xứ Canaan. Torah khép lại với ghi chép về cái chết của Moses.

Theo truyền thống, Torah chứa đựng 613 mitzvot, hoặc điều luật, của Thiên Chúa, được mặc khải từ thời kỳ nô lệ trong đất Ai Cập cho đến lúc sống đời tự do trong xứ Canaan. Những điều luật này kiến tạo nền tảng cho luật Halakha của Do Thái giáo và được chi tiết hóa trong bộ luật Talmud. Torah được chia thành 54 phần, được xướng đọc theo thứ tự trong nghi thức Do Thái giáo, vào mỗi ngày Sabbath (thứ Bảy trong tuần), từ trang đầu của Sách Sáng Thế cho đến trang cuối củaSách Đệ Nhị Luật. Chu trình này chấm dứt và lại khởi đầu vào cuối kỳ Sukkot, còn gọi là Simchat Torah.

Sách Tiên tri

Các sách Tiên tri hoặc Ngôn sứ (Nevi’im) thuật lại sự trỗi dậy của vương triều Do Thái, sự chia cắt đất nước thành hai vương quốc, và những nhà tiên tri (ngôn sứ), những người nhân danh Thiên Chúa đến để rao truyền sự đoán phạt trên các quân vương và Con dân Israel. Các sách này khép lại với ghi chép về sự kiện ngườiAssyria xâm chiếm Vương quốc Israel và người Babylon chiếm đóng Vương quốc Judah, cùng sự phá hủy Đền thờ tại Jerusalem. Trong ngày Sabbath, người Do Thái vẫn đọc những phần khác nhau của các sách tiên tri. Còn sách Jonah được đọc trong ngày lễ Yom Kippur.

  Tam thập lục kế

Theo truyền thống Do Thái, phần Tiên tri được chia thành 8 sách. Các bản dịch hiện nay lại chia chúng thành 17 sách.

Tám sách này là:

  • Sách Giôsuê hoặc Yehoshua [יהושע]
  • Sách Thủ Lãnh – Shoftim [ שופטים]
  • Sách Samuen hoặc Shmu’el’ [שמואל] (Sách Samuel thường được chia thành 2 sách thứ nhất và thứ nhì; nhân vật Samuel có thể được xem là Quan Xét cuối cùng (các con trai của ông được chỉ định làm quan xét nhưng bị dân chúng khước từ), ông cũng được xem là người đầu tiên trong số các nhà tiên tri; ông là người thay mặt dân chúng nài xin Thiên Chúa chọn và xức dầu vị vua đầu tiên của dân Israel).
  • Sách Các Vua hoặc Melakhim [מלכים] (thường được chia thành hai sách)
  • Sách Isaia hoặc Yeshvahu [ישעיהו]
  • Sách Giêrêmia hoặc Yirmiyahu [ירמיהו]
  • Sách Êdêkien hoặc Yehezq’el [יחזקאל]
  • Các sách Tiên tri hoặc Mười hai Ngôn sứ nhỏ [Trei Asarתרי עשר]
    1. Hosea hoặc Hoshea [הושע]
    2. Joel hoặc Yo’el [יואל]
    3. Amos [עמוס]
    4. Obadiah hoặc Ovadyah [עבדיה]
    5. Jonah hoặc Yonah [יונה]
    6. Micah hoặc Mikhah [מיכה]
    7. Nahum hoặc Nachum [נחום]
    8. Habakkuk hoặc Habaquq [חבקוק]
    9. Zephaniah hoặc Tsefania [צפניה]
    10. Haggai [חגי]
    11. Zechariah hoặc Zekharia [זכריה]
    12. Malachi hoặc Malakhi [מלאכי]

Ngũ Thư và các sách Tiên tri đều là những thiên anh hùng ca, dù ở đây không thể tìm thấy những nhân vật anh hùng (Moses và David, trong nhiều khía cạnh, có thể xem như là đối nghịch với hình ảnh anh hùng; có người xem toàn thể Con dân Israel là anh hùng, hoặc nhiều người khác chỉ chọn một anh hùng duy nhất, Thiên Chúa).

Văn chương

Các sách Văn chương hoặc Trước tác (Ketuvim) có lẽ đã được viết trong hoặc sau thời kỳ Lưu đày tại Babylon. Đây là các sách sau cùng được quy điển. Theo cách giải thích truyền thống của Do Thái giáo, nhiều bài Thánh vịnh trong Sách Thánh Vịnh (hoặc Thi Thiên) được xem là những trước tác của Vua David; Vua Solomonđược xem là tác giả của Sách Diễm Ca (hoặc Nhã Ca) khi nhà vua còn trẻ, còn Sách Châm Ngôn được trước tác khi nhà vua đang độ tuổi trung niên chín chắn, và sách Sách Huấn Ca (hoặc Truyền Đạo) vào lúc tuổi già; Sách Ai Ca (hoặc Ca Thương) được cho là của tiên tri Jeremiah. Job là sách duy nhất trong Kinh Thánh được xem là không phải Do Thái. Sách Ruth kể chuyện một phụ nữ không thuộc dân tộc Do Thái (Ruth là người Moab) kết hôn với một người Do Thái, sau khi chồng qua đời, bà chấp nhận cuộc sống và niềm tin của người Do Thái; theo Kinh Thánh, Ruth là bà cố của Vua David. Có năm sách được chọn để đọc trong các ngày lễ Do Thái: Nhã ca trong ngày Lễ Vượt qua; Sách Ruth trong ngày lễ Shavuot; Ca thương trong lễ Ninth of Av; Truyền đạo trong ngày lễ Sukkot; và sách Zuffi trong ngày lễ Purim. Nhìn chung, phần Văn chương (Ketuvim) trong Kinh Thánh Hebrew gồm có thi ca trữ tình, những suy tư triết lý về cuộc sống, những câu chuyện về các tiên tri và các nhà lãnh đạo dân tộc Do Thái trong thời kỳ lưu đày. Phần này kết thúc với chiếu chỉ của hoàng đế Ba Tư cho phép dân Do Thái trở về Jerusalem và bắt tay tái thiết Đền thờ.

Phần Văn chương (Ketuvim) có 11 sách:

  • Thánh Vịnh hay Thi thiên
  • Sách Châm Ngôn
  • Sách Gióp
  • Sách Diễm Ca hay Nhã ca
  • Sách Rút
  • Sách Ai Ca) hay Ca thương
  • Sách Huấn Ca)
  • Sách Étte
  • Sách Đanien
  • Sách Étra và Sách Nơkhemia
  • Sách Sử Biên Niên

Dịch thuật và ấn hành

Phần lớn Kinh Thánh Hebrew (Tanakh) được viết bởi tiếng Hebrew Kinh thánh, với một vài phần (trong sách Daniel và sách Ezra) được biết bằng tiếng Aram.

Vào một thời điểm nào đó trong thế kỷ thứ 2 hoặc thứ 3 TC., kinh Torah được dịch sang tiếng Hy Lạp Koine (một phương ngữ Hy Lạp cổ), trong thế kỷ kế tiếp, các sách khác được dịch (hoặc trước tác). Thành quả dịch thuật này về sau trở thành Bản Bảy mươi, được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng người Do Thái nói tiếng Hy Lạp, và sau này trong cộng đồng Cơ Đốc giáo. Có sự khác biệt đôi chút giữa bản Bảy mươi và bản tiếng Hebrew (bản Masorete) được chuẩn hoá sau này. Có truyền thuyết cho rằng 70 nhà dịch thuật làm việc độc lập với nhau nhưng tạo ra những văn bản giống nhau, ngụ ý cả bản dịch cũng được linh truyền.

Từ thập niên 800 đến thập niên 1400, các học giả Do Thái giáo, được biết đến với tên Masorete, so sánh tất cả văn bản Kinh Thánh họ có trong tay trong nỗ lực tạo lập một văn bản chuẩn và đồng nhất; dần dần xuất hiện một nhóm các bản văn rất giống nhau, được gọi là Các Bản văn Masorete (Masoretic Texts – MT). Bởi vì chữ viết trong nguyên bản chỉ có phụ âm nên các học giả Masorete tìm cách thêm vào các nguyên âm (gọi là niqqud). Phương pháp này đòi hỏi phải chọn cách diễn giải thích ứng, vì có một số từ chỉ khác nhau ở nguyên âm – do đó ý nghĩa của từ ấy phụ thuộc vào nguyên âm được chọn. Trong số các bản văn Hebrew cổ còn lại, một số được tìm thấy trong Bộ Ngũ Thư Samaria, Bộ sách Biển Chết (Dead Sea Scrolls), và các phần rời cổ văn khác, được chứng thực bởi các văn kiện cổ thuộc các ngôn ngữ khác.

Trong các phiên bản của Bản Bảy mươi chứa đựng một số sách và một vài đoạn không có trong Kinh Tanakh (Cựu Ước) theo Bản Masorete. Trong một số phiên bản, phần thêm vào là những trước tác bằng Hi văn, trong một số phiên bản khác chúng là bản dịch các sách tiếng Hebrew không được tìm thấy trong bản Masorete. Tuy nhiên, những phát hiện mới đây cho thấy phần thêm vào của bản Bảy mươi có nguồn gốc từ các văn bản Hebrew nhiều hơn đã từng tưởng. Mặc dù hiện nay không còn tồn tại bản văn gốc tiếng Hebrew của bản Bảy mươi, nhiều học giả tin rằng bản bảy mươi dựa trên một bản văn cổ khác cũng là nền tảng cho bản Masorete.

Kinh Thánh Kitô giáo

Kinh Thánh sử dụng trong các giáo phái khác nhau của cộng đồng Kitô giáo bao gồm Cựu Ước và Tân Ước mà các phiên bản và các bản dịch chỉ khác nhau đôi chút. Cựu Ước dựa trên Kinh Thánh Hebrew, trong một số bản có phần thêm vào; Tân Ước ký thuật cuộc đời và lời giảng của Chúa Giêsu.

  Hoàng đế nội kinh

Cựu Ước

Kể từ Bản Vulgate của Hierom cho đến ngày nay, người ta thích chọn bản Masorete thay vì Bản Bảy Mươi để làm nguyên bản cho các bản dịch Cựu Ước sang các ngôn ngữ phương Tây, nhưng trong cộng đồng Kitô giáo Đông phương, các bản dịch vẫn thường dựa trên Bản Bảy Mươi. Một số bản dịch ở phương Tây sử dụng Bản Bảy Mươi để làm rõ nghĩa bản Masorete cho một số bản sao bị mục nát.

Có một số Thứ Kinh (deuterocanonical books) là một phần trong bản Bảy mươi Hi văn, nhưng không có trong Kinh Thánh Hebrew. Hầu hết các giáo hội Kháng Cách(Protestant) không công nhận các sách Thứ Kinh là Kinh Thánh mặc dù chúng vẫn có mặt trong Kinh Thánh Kháng Cách cho đến thập niên 1820, trong khi Giáo hội Công giáo, Chính Thống giáo Đông phương và các giáo hội phương Đông khác xem các sách Thứ Kinh là một phần của Cựu Ước. Công giáo công nhận 7 sách (Tôbia, Giuđitha, Macabê quyển 1, Macabê quyển 2, Khôn Ngoan, Huấn Ca, và Barúc) cũng như một vài đoạn trong sách Étte và Đanien. Một số giáo hội Chính Thống thêm vào một vài sách như Maccabê quyển 3, Thánh Vịnh 151, Étra quyển 1, Odes, Thánh Vịnh của Solomon và đôi khi là Macabê quyển 4.

Tân Ước

Tân Ước là một tuyển tập 27 sách của Kitô giáo với Chúa Giêsu là nhân vật trung tâm, phần lớn được viết bằng tiếng Hy Lạp Koine trong thời kỳ sơ khai của Kitô giáo, được hầu hết Kitô hữu công nhận là Kinh Thánh.

Có thể chia Tân Ước thành ba nhóm:

  • Các sách Phúc âm (trong đó các Phúc âm Mátthêu, Mark và Luca gọi là Phúc âm Nhất Lãm)
    • Phúc âm Matthew (Mátthêu hoặc Mathiơ)
    • Phúc âm Mark (Máccô hoặc Mác)
    • Phúc âm Luca
    • Phúc âm John (Gioan hoặc Giăng)
  • Các Thư tín mục vụ
  • Sách Khải Huyền của John (theo truyền thống là sứ đồ John)

Ngôn ngữ

Ấn phẩm

Ấn bản đầu tiên của Tân Ước Hi văn xuất hiện năm 1516 từ nhà in Froben. Đây là một công trình của Desiderius Erasmus, dựa trên các bản cổ sao tiếng Hy Lạp theo truyền thống Byzantine, theo cách sắp xếp của ông, trong những phần không tìm được bản Hi văn, ông sử dụng bản Vulgate.

Erasmus là tín hữu Công giáo Rôma, nhưng ông thích sử dụng bản Hi văn Byzantine hơn bản Vulgate tiếng Latin, vì vậy ông bị một số chức sắc có thẩm quyền trong giáo hội xét nét ông với sự nghi ngờ.

Ấn bản đầu tiên dựa trên sự so sánh giữa các bản cổ sao được xuất bản bởi nhà in Robert Estienne ở Paris năm 1550. Các bản văn được in trong ấn bản này và trong ấn bản của Erasmus được biết đến dưới tên Textus Receptus (bản văn được công nhận), danh hiệu này được dùng cho ấn bản Elzevier năm 1633, gọi là bản văn nunc ab omnibus receptum (được mọi người công nhận). Dựa trên bản văn này mà các giáo hội trong thời kỳ Cải cách Kháng Cách thiết lập các bản dịch sang ngôn ngữ địa phương như bản King James trong tiếng Anh.

Sự phát hiện các bản cổ văn có tuổi thọ lớn hơn như bản Sinai (Codex Sinaiticus) và bản Vatican (Codex Vaticanus), khiến giới học giả xét lại quan điểm của mình về văn bản. Ấn bản năm 1831 của Karl Lachmann, dựa trên các bản cổ sao có niên đại từ thế kỷ thứ tư trở về trước, tìm cách biện luận rằng cần phải xét lại giá trị của Textus Receptus. Những bản văn này đều dựa trên những nghiên cứu học thuật nhờ vào sự khám phá các mảnh rời bằng giấy cói (papyrus), trong một số trường hợp, có niên đại lên đến chỉ vài thập niên cách biệt so với thời điểm trước tác của các sách trong Tân Ước. Do đó, hiện nay hầu như tất cả các bản dịch hoặc bản nhuận chánh (revision) của các bản dịch trước đó, tính từ hơn một thế kỷ cho đến nay, đều dựa trên các bản cổ sao này, mặc dù vẫn còn một số học giả thích lập nền trên Textus Receptus hoặc một bản văn tương tự, bản “Byzantine Majority Text“.

Quy điển

Quan điểm phổ biến trong Do Thái giáo (Judaism) cho rằng người ta đã thảo luận về tiến trình quy điển cho một số sách từ những năm 200 TC. cho đến năm 100SC., mặc dù vẫn chưa được biết rõ ràng thời điểm nào trong thời gian này mà kinh điển Do Thái được xác lập.

Bên cạnh những sách được Do Thái giáo công nhận là Kinh Thánh, vào thế kỷ thứ tư Cơ Đốc giáo thêm vào Kinh Thánh 27 sách Tân Ước. Trong khi Công giáo công nhận các sách thứ kinh là một phần của Cựu Ước, tín hữu Kháng Cách chỉ công nhận các sách được quy điển của Do Thái giáo (Tanakh) là Kinh Thánh. Như thế, Cựu Ước Kháng Cách có 39 sách – có sự khác biệt về số đầu sách là vì chúng được phân chia lại trong khi vẫn giữ nguyên nội dung – còn Giáo hội Công giáo công nhận 46 sách là Kinh Thánh.

Các phiên bản và bản dịch

Trong giới học thuật, các bản dịch cổ thường được gọi là “phiên bản” (version) trong khi thuật ngữ “bản dịch” được dành cho các bản dịch thời trung cổ hoặc đương đại.

Nguyên bản của Tanakh là tiếng Hebrew, mặc dù có một vài phần được viết bằng tiếng Aram. Bên cạnh Bản Masorete được công nhận là bản thẩm quyền, người Do Thái vẫn sử dụng bản Bảy mươi (bản dịch Kinh Thánh Hebrew sang tiếng Hy Lạp), và bản Targum Onkelos, một bản Kinh Thánh tiếng Aram.

Kitô hữu thời kỳ sơ khai đã dịch Kinh Thánh Hebrew sang các ngôn ngữ khác; bản văn chính được sử dụng là Bản Bảy mươi để dịch sang tiếng Syria, Coptic, Latinvà các ngôn ngữ khác. Các bản dịch tiếng Latin là có tầm quan trọng lịch sử đối với giáo hội phương Tây trong khi giáo hội phương Đông nói tiếng Hy Lạp tiếp tục sử dụng bản Bảy mươi (Cựu Ước) và không cần phải dịch Tân Ước (nguyên văn bằng tiếng Hy Lạp).

Bản dịch tiếng Latin cổ xưa nhất là bản Latin Cổ (Vetus Latina), dựa trên bản Bảy mươi, và như thế bao gồm những sách không được qui điển trong Kinh Thánh Hebrew.

Sự xuất hiện ngày càng nhiều các bản dịch tiếng Latin khiến Giáo hoàng Damascus, vào năm 382, uỷ nhiệm thư ký của mình, Thánh Hierom, xác lập một bản văn nhất quán và đáng tin cậy. Hierom đảm nhận sứ mạng này để hoàn tất một bản hoàn toàn mới dịch trực tiếp từ tiếng Hebrew của bản Kinh Thánh Tanakh. Bản dịch này là nền tảng cho bản dịch tiếng Latin Vulgate, dù Hierom dịch các Thi thiên (Thánh vịnh) từ tiếng Hebrew, dựa trên bản Bảy mươi cổ, với một ít sửa đổi, được giáo hội sử dụng và được đưa vào các ấn bản của bản Vulgate. Bản Vulgate bao gồm các sách thứ kinh (deuterocanonical books), được Hierom nhuận chính, và trở nên bản dịch chính thức của Giáo hội Công giáo.

Phân đoạn và câu

Kỹ thuật phân đoạn (chương) và đánh số câu trong mỗi đoạn cho Kinh Thánh như hiện nay không dựa trên truyền thống bản văn cổ đại, mà là một phát kiến thời trung cổ. Về sau chúng được chấp nhận bởi nhiều người Do Thái, có tính tham khảo cho các bản văn Do Thái.

Sự phân chia các sách trong Kinh Thánh thành nhiều đoạn chương đã dấy lên những chỉ trích từ những người chuộng truyền thống và các học giả hiện đại. Họ lập luận rằng các bản văn bị phân chia thành nhiều đoạn trở nên thiếu mạch lạc, giảm sức thuyết phục, và khuyến khích việc trích dẫn ngoài văn mạch, có thể biến Kinh Thánh trở nên những phần trích dẫn phục vụ các mục tiêu khác. Tuy nhiên, việc phân chia các sách trong Kinh Thánh thành các đoạn và đánh số câu cho mỗi đoạn đã trở nên không thể thiếu cho công việc tham khảo trong nghiên cứu Kinh Thánh.

Stephen Langton được cho là người đầu tiên phân đoạn cho ấn bản Vulgate của Kinh Thánh vào năm 1205. Sau đó, trong thập niên 1400, kỹ thuật này được ứng dụng cho các bản sao tiếng Hy Lạp của Tân Ước. Robert Estienne (Robert Stephanus) là người đánh số câu cho mỗi đoạn, kỹ thuật này được ứng dụng cho các bản in năm 1565 (Tân Ước) và năm 1571 (Kinh Thánh Hebrew).

Các dữ liệu khác

  • Câu dài nhất trong Kinh Thánh là câu 9, chương 8 của sách Esther.
  • Chương dài nhất là Thánh Vịnh 119, chương ngắn nhất là Thánh Vịnh 117.
  • Chương ngay giữa Kinh Thánh là Thánh Vịnh 117. Có 594 chương trước đó, và 594 chương ở sau.
  • Sách ngắn nhất trong Kinh Thánh là Thư mục vụ thứ ba của John (Gioan hoặc Giăng). Thư thứ hai của John có số câu ít hơn nhưng có nhiều từ hơn.
  • Có cả thảy 773.692 từ trong Kinh Thánh (bản King James tiếng Anh).
  • Câu ngắn nhất trong Kinh Thánh là Phúc Âm Gioan 11. 35, chỉ có 2 từ “Giêsu khóc”.
  • Từ dài nhất trong Kinh Thánh là “Mahershalalhashbaz” (nghĩa là “Sự cướp mau lên, của cướp kíp đến”) được tìm thấy trong câu 1 và 3 của chương 8 sách Isaiah.
  • Trong Kinh Thánh có hai chương có nội dung tương tự nhau là 2 Các vua 19 và Isaiah 37. (14 câu đầu của mỗi chương giống nhau từng chữ theo bản dịch Anh ngữ King James).
  • Toàn bộ Kinh Thánh có 1.189 chương (929 chương trong Cựu Ước và 260 chương trong Tân Ước).
  • Trong Kinh Thánh theo bản King James không có câu nào chứa đựng tất cả mẫu tự trong bảng chữ cái (alphabet), nhưng câu 21, chương 7 của sách Ezekiel có hầu như tất cả, chỉ thiếu mẫu tự “J”, còn Daniel 4.37 chỉ thiếu mẫu tự “Q”.
  • Danh xưng “Jehovah” xuất hiện gần 7000 lần trong cả Cựu Ước và Tân Ước

Xem thêm

  • Cựu Ước
  • Tân Ước
  • Kinh Thánh Tiếng Việt 1926
  • Tanakh
  • Kinh Thánh Hebrew
  • William Cadman, dịch Kinh Thánh sang tiếng Việt, 1934

Tham khảo

  • Berlin, Adele, Marc Zvi Brettler and Michael Fishbane. The Jewish Study Bible. Oxford University Press, 2003. ISBN 0-19-529751-2
  • Anderson, Bernhard W. Understanding the Old Testament (ISBN 0-13-948399-3)
  • Dever, William B. Who Were the Early Israelites and Where Did they Come from? Grand Rapids, MI: William B. Eerdmans Publishing Co., 2003. ISBN 0-8028-0975-8.
  • Head, Tom. The Absolute Beginner’s Guide to the Bible. Indianapolis, IN: Que Publishing, 2005. ISBN 0-7897-3419-2.
  • Hoffman, Joel M. In the Beginning. New York University Press. 2004. ISBN 0-8147-3690-4.
  • Lienhard, Joseph T. “The Bible, The Church, and Authority.” Liturgical Press, Collegeville, Minnesota, 1995.
  • Miller, John W. The Origins of the Bible: Rethinking Canon History Mahwah, NJ: Paulist Press, 1994. ISBN 0-8091-3522-1.
  • Riches, John. The Bible: A Very Short Introduction, Oxford University Press, 2000. ISBN 0-19-285343-0
  • Silberman, Neil A. and colleagues. The Bible Unearthed: Archaeology’s New Vision of Ancient Israel and the Origin of Its Sacred Texts. New York: Simon and Schuster, 2001. ISBN 0-684-86913-6.
  • Taylor, Hawley O., “Mathematics and Prophecy,” Modern Science and Christian Faith, Wheaton,: Van Kampen, 1948, pp. 175–183.
  • Thiollet, Jean-Pierre, Je m’appelle Byblos, H & D, Paris, 2005. ISBN 2 914 266 04 9
  • Wycliffe Bible Encyclopedia, subject: prophecy, page 1410, Moody Bible Press, Chicago, 1986
  • Wycliffe Bible Encyclopedia, subject: Book of Ezekiel, page 580, Moody Bible Press, Chicago, 1986

Chú thích

  1. ^ Những cuốn sách bán chạy nhất trong lịch sử thế giới
  2. ^ “Best selling book of non-fiction”.
  3. ^ “The battle of the books”. The Economist. Ngày 22 tháng 12 năm 2007.
  4. ^ Ash, Russell (2001). Top 10 of Everything 2002. Dorling Kindersley. ISBN 0-7894-8043-3.
  5. ^ Emerging Trends, Tháng 11 1994, tr. 4.

Liên kết bên ngoài

Bản dịch tiếng Việt:

  • Kinh Thánh trực tuyến (Ma-thi-ơ đến Khải huyền) bản dịch Thế giới Mới

Bản dịch tiếng Việt của Công giáo:

  • Kinh Thánh
  • Bản dịch Kinh Thánh chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam
  • Trang Chứnh nhân Đức Kitô: đăng tải lại bản trên
  • Trang Thánh Linh: đăng tải lại bản trên
  • Dữ liệu Công giáo Việt Nam

Bản dịch tiếng Việt của Tin Lành:

  • Kinh Thánh Tin Lành
  • Kinh Thánh Bản Dịch 2011
  • Quá trình phiên dịch Kinh Thánh sang tiếng Việt
  • Kiến Thức: Vài Nét Về Kinh Thánh
  • Phan Khôi: Giới thiệu và Phê Bình Thánh Kinh Báo
  • Thi Kinh Thánh
  • Kinh Thánh sang tiếng Việt WordPlanet – Vietnamese and English Bible

Các văn bản ngoại ngữ:

  • Danh mục Kinh Thánh đa ngôn ngữ trực tuyến
  • Bible on Demand – Custom PDF versions of any Hebrew section of the Bible.
  • BibleGateway.com (NIV, ESV, etc.)
  • BibleStudyTools.net (KJV, NRSV, NKJV, etc.)
  • The Bible
  • Bible Study Wiki
  • French, English and Chinese Online Bible
  • o-bible.com Chinese and English
  • Multilingual Online Bible
  • Online Jewish translation of the Bible With *A first introduction to the Bible (Old testament)
  • Rashi’s commentary by The Judaica Press at chabad.org
  • Bible stories Genesis to Joshua
  • SacredBible.org Latin Vulgate
  • Torontogospel.ca Audio Version Of the King James Bible
  • Skeptic’s Annotated Bible (KJV)
  • UnboundBible.org Languages other than English
  • Bible entry in the 1728 Cyclopaedia.
  • World English Bible Public Domain (no copyright) Modern English translation of the Bible
  • ZapBible.com Daily concise meditation based on the traditional daily Bible readings and Psalm
  • 소금성경: (SaltBible) 성경전서 개역한글, Darby Bible, Chinese Union Version, CUVt, CUVs, Luther Bibel, American Standard Version, King James Version, World English Bible, 口語訳 聖書, Reina-Valera, Kinh Thánh을 온라인으로 제공

Link download: https://drive.google.com/file/d/0B3yfhNOxyqEKd0loUXdCdDUzSEk

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC

CÓ THỂ BẠN THÍCH XEM

VĂN HÓA VIỆT NAM

TIN MỚI NHẤT

Hyundai Ioniq 5

Hyundai mới đây đã công bố lượng đơn đặt hàng kỷ lục dành cho Ioniq 5 – dòng xe điện đầu tiên trong đội hình Hyundai cũng như thương hiệu con Ioniq. Ngay trong ngày đầu tiên mở bán (25/2), họ đã nhận được 23.760 đơn đặt hàng – con số kỷ lục chưa từng mẫu xe Hyundai nào ở bất kỳ phân khúc nào đạt đến.

Tại châu Âu, dù chưa đăng ký mở bán chính thức nhưng Hyundai cũng đã được 236.000 khách hàng đăng ký thông tin và sẵn sàng cọc trước cho chiếc SUV điện – cũng là mức kỷ lục cho một dòng xe Hyundai trong khu vực. 3.000 xe thuộc phiên bản đặc biệt Project 45 cũng đã cháy hàng khi có lượng đặt cọc trước cao gấp 3 lần.


Hyundai sẽ bắt tay vào lắp ráp Ioniq 5 từ tháng 3 này với cam kết sẽ không bị hạn chế sản lượng do đã dự trữ chip linh kiện từ trước, nhờ thế tránh được tình cảnh phải sản xuất cầm chừng như nhiều đối thủ đang gặp phải.

Hyundai Ioniq 5 có 2 tùy chọn ắc quy với dung lượng 58 và 72,6 kWh. Xe trang bị khung gầm E-GMP hoàn toàn mới với kết cấu mô tơ điện kép cho tổng công suất tối đa 302 mã lực cho phép xe tăng tốc từ 0 lên 100 km/h trong 5,2 giây.

Tầm vận hành tối đa Ioniq 5 đạt được rơi vào ngưỡng xấp xỉ 480 km mỗi lần sạc đầy. Xe sở hữu công nghệ sạc nhanh 800V cho khả năng sạc đầy 80% trong 18 phút hoặc đủ đi 100 km trong 5 phút.

  Mã Tiền Khóa

Tham khảo: InsideEV, Carscoops

Xe bọc thép Atlet

Hiện nay những công đoạn cuối cùng nhằm hoàn thiện dòng xe bọc thép Atlet mới đang được tiến hành, trong tương lai gần Quân đội Nga sẽ được trang bị ồ ạt những siêu “quái thú” này.

Nga sắp có xe bọc thép thế hệ mới

Nhà chế tạo xe bọc thép chở quân lớn nhất của Nga, Công ty Công nghiệp Quân sự (Military-Industrial Company, viết tắt là VPK), hiện đang tiến dần tới việc sản xuất loạt dòng xe “quái thú” thế hệ mới mà họ vừa hoàn thiện.

Tuy nhiên, để chính thức được Bộ Quốc phòng Nga đặt mua và trang bị ồ ạt cho Quân đội Nga thì những chiếc xe bọc thép Atlet của VPK còn phải vượt qua một thử thách cực lớn nữa đó là giai đoạn thử nghiệm cấp nhà nước.

Ông Alexander Krasovitsky – Tổng giám đốc VPK cho biết “Tính tới thời điểm hiện tại, xe bọc thép Atlet đã hoàn tất các giai đoạn thử nghiệm cơ bản và chuẩn bị bước vào giai đoạn thử nghiệm cấp nhà nước. Dự kiến Atlet sẽ bắt đầu thử thách lớn cuối cùng này vào mùa Xuân 2021 và kéo dài tới cuối mùa hè cùng năm”.

Xe bọc thép Atlet thế hệ mới do Nga chế tạo

Tư lệnh Lục quân Nga, tướng Oleg Salyukov cho biết giai đoạn thử nghiệm cấp nhà nước đối với xe bọc thép Atlet sẽ hoàn thiện trong năm 2021.

“Quái thú” vượt trội hơn hẳn “Hổ”

  Truyện Kiều

Xe bọc thép Atlet có cấu hình 2 cầu chủ động (4×4) và được thiết kế để chở quân và hàng hóa quân sự, có khả năng phòng hộ cực tốt, có thể kéo rơ-moóc và làm khung gầm để gắn nhiều loại vũ khí trang bị và các khí tài đặc chủng.

Với cấu hình tiêu chuẩn, những chiếc “quái thú” này được trang bị các ghế ngồi giảm chấn cho tất cả các thành viên của kíp xe và được trang bị điều hòa không khí. Nhờ khả năng kháng mìn tuyệt hảo, xe chịu được sức nổ của mìn có đương lượng nổ tương đương 2kg TNT.

Atlet kế thừa toàn bộ những ưu điểm vượt trội của dòng xe bọc thép Tiger biệt danh là “Hổ” cũng do VPK chế tạo nhưng ở đẳng cấp cao hơn rất nhiều.

So sánh với xe bọc thép Tiger “đàn anh”, Atlet có sức chở lớn hơn, tới 1.600kg so với chỉ 1.200kg của Tiger và khả năng kháng mìn tốt gấp 3 lần, lên tới 2kg TNT so với 0,6kg TNT của Tiger. Khả năng chở quân của 2 dòng xe là tương đương nhau.

Xe bọc thép Atlet thế hệ mới do Nga chế tạo.

Xe được trang bị động cơ YaMZ-5347-24 cho công suất đỉnh 240 mã lực hoặc lựa chọn các động cơ khác có công suất tới 300 mã lực, tất cả đều mạnh mẽ hơn so với các phiên bản động cơ trang bị cho Tiger. Tuy nhiên, trọng lượng của Atlet lại lớn hơn, tới 9,5 tấn, so với khoảng 7,2 tấn của “đàn anh” Tiger.

  Bí ẩn báu vật huyền thoại trong Kinh Thánh


Hồi tháng 8/2020, các xe Atlet đã bước vào giai đoạn thử nghiệm cấp nhà máy và đến nay công tác này đã hoàn tất.

Ông Alexander Krasovitsky – Tổng giám đốc VPK cho biết, những chiếc xe bọc thép Atlet đã thực hành các khoa mục thử nghiệm tại nhiều thao trường thử nghiệm gồm:

– Trung tâm Nghiên cứu và triển khai phương tiện cơ giới (ở Bronnitsy, vùng Moscow),

– Trung tâm Nghiên cứu và triển khai xe bọc thép (ở Kubinka, vùng Moscow),

– Trung tâm thử nghiệm phương tiện cơ giới của Bộ Quốc phòng Nga và Trung tâm thử nghiệm xe cơ giới NAMI (ở quận Dmitrov, vùng Moscow).

Tại các trung tâm thử nghiệm này, xe bọc thép Atlet đã hoàn tất hàng nghìn km trên đủ loại đường khác nhau, từ đường đồng, đường tạm cho tới các loại đường đặc biệt, nó cũng thử nghiệm kéo theo cả một xe thùng (rơ-moóc 2,5 tấn), kiểm tra khả năng vận hành trong điều kiện nhiệt độ cao và thấp cũng như khả năng vượt hào, chướng ngại nước.

Ngoài ra, dòng xe mới này cũng được kiểm tra căn kẽ khả năng chống đạn và kháng mìn.

“Trước khi dòng xe mới được trang bị cho quân đội và các lực lượng, chúng tôi phải đảm bảo chắc chắn rằng nó đủ khả năng bảo vệ hoàn hảo người lính trong điều kiện tác chiến thực tế”, ông Alexander Krasovitsky cho biết.

  Mã Tiền Khóa

Hiện tại, nhà chế tạo đang hoàn thiện các mẫu xe bọc thép Atlet gồm phiên bản thiết kế đặc biệt (ASN) và phiên bản xe bọc thép đa dụng 5 cửa (AMN-2).

Chắc chắn trong tương lai gần, có thể là ngay từ năm 2022, nhưng chiếc xe bọc thep Atlet thế hệ mới sẽ bắt đầu được sản xuất loạt và trang bị cho Quân đội Nga.

Không loại trừ khả năng trong thời gian tới chúng ta có thể thấy những con “quái thú” này xuất hiện ở Syria nhằm thử lửa ở chiến trường khốc liệt để chứng minh khả năng vận hành cũng như phòng hộ tuyệt hảo của mình.

Có thể, qua đó, các nhà chế tạo sẽ rút được các kinh nghiệm từ thực tế chiến đấu nhằm hoàn thiện, cải tiến và tối ưu hóa các tính năng của xe.

Trước đó, các xe bọc thép Tiger và BPM-97 đã được Nga tung sang chiến trường Syria, qua thực chiến chúng được đánh giá rất cao và được coi là nỗi kinh hoàng của khủng bố IS và phiến quân đối lập ở quốc gia Trung Đông này.

Cờ vua

1.1. Theo dòng lịch sử

            Trên hành tinh chúng ta có một trò chơi kết hợp trí tuệ và nghệ thuật do con người sáng tạo ra từ ngàn năm nay. Trải qua hàng chục thế kỷ chiêm nghiệm, con người đã liệt nó vào một trong bốn thú chơi thanh tao, nghệ thuật bậc nhất của nhân loại “Cầm Kỳ Thi Họa”. Đó chính là Cờ (Kỳ). Cờ được sánh ngang với âm nhạc, hội họa, văn chương. Như vậy thì quả là không còn gì phải bình phẩm thêm nữa! Từ một thú chơi, cờ dần dà mang tính thể thao thử thách trí thông minh, óc sáng tạo của con người. Thời gian sàng lọc tất cả, chỉ những gì tinh tuý nhất mới được giữ lại. Trên trái đất này đã từng xuất hiện biết bao trò chơi, biết bao môn thể thao, trong số đó có rất nhiều trò chơi xuất hiện rồi mai một, rơi vào dĩ vãng và bị quên lãng. Riêng cờ thì khác hẳn. Đã trải qua hơn 1500 năm kể từ ngày nó ra đời, không những nó không bị mai một đi mà trái lại ngày càng phát triển mạnh mẽ, rộng khắp ở tất cả các châu lục. Ngày nay khi nhân loại ngày càng văn minh thì cũng là lúc cờ ở vào thời kỳ hoàng kim của mình. Dù là cờ Tướng hay cờ Vua (bởi chúng là hai anh em sinh đôi) thì sức sống của chúng ngày càng mãnh liệt.
Một cách tự nhiên, những người chơi cờ, những người yêu thích cờ đến một lúc nào đó cũng sẽ đặt ra câu hỏi:

Cờ có từ bao giờ và lịch sử cả nghìn năm qua của nó ra sao?

Vì sao cờ được con người yêu thích và say mê như vậy?

Từ xưa tới nay ai là những người chơi cờ giỏi nhất?

Cờ có ích lợi gì cho con người?

Cờ ngày nay có khác gì với cờ ngày xưa không? v.v…

***
Để trả lời những câu hỏi trên chúng ta hãy ngược dòng thời gian, cùng làm một chuyến du lịch về quá khứ .

Những dòng mở đầu về lịch sử cờ cũng giống như ở các câu chuyện cổ tích mà chúng ta thường nghe :”Ngày xửa ngày xưa, cách đây lâu lắm rồi…”

Vào khoảng thế kỷ thứ 6, Ấn Độ ,quốc gia rộng lớn của Phương Đông, từng là một trung tâm văn hóa và nghệ thuật thế giới. Ngày nay,sang thăm đất nước này, chúng ta vẫn không khỏi kinh ngạc trước những đền đài hùng vĩ, những nhà thờ lộng lẫy, oai nghiêm, những khu lăng tẩm tráng lệ, những tượng thần tạc bằng đá, bằng đồng…tinh vi, sống động…

Vào thời xa xưa ấy, Ấn Độ cũng là đỉnh cao của toán học, của khoa chiêm tinh. Ấn Độ có nhiều nhà bác học mà thời đó người ta gọi là các nhà thông thái.

Các nhà thông thái của thế giới cổ đại ấy đã sáng tạo một trò chơi gọi là ”Saturanga” tức là trò chơi chiến trận đối kháng có hai bên tham gia. Các quân tượng trưng cho một thế trận gồm đầy đủ chỉ huy và bốn binh chủng quân đội thời bấy giờ. Phía trước là một hàng quân tiến bước, tiếp đến là các chàng kỵ mã và các đội voi chiến (Ấn Độ có rất nhiều voi). Mé ngoài cùng là những chiếc xe di động. Chiễm chệ giữa hàng quân là đức Vua cùng với các cận thần.
Lúc đầu thế trận như vậy được bày trên đất, có cả “sông” và “núi” ngăn cách. Dần dà thế trận rộng lớn được thu nhỏ lại trên một bàn cờ được chia thành các ô và các quân được cách điệu hóa. Từ đó cờ dễ dàng đến với tất cả mọi người, chu du khắp thiên hạ. Các nhà thông thái hết sức thú vị với cách bày trận của mình vì họ cảm thấy chính họ là những thống lĩnh tối cao, chỉ huy toàn bộ ba quân, được dịp phô trương tài nghệ thao lược của mình. Quân của hai bên khôn khéo dàn trận, cố gắng chiếm những vị trí xung yếu, lấn dần trận địa đối phương rồi xáp chiến, khi tấn công mạnh mẽ, khi thoái lui chiến lược, lúc bất thần đánh thẳng vào đại bản doanh quân địch để bắt sống Vua đối phương, và cũng không ít khi bị bên đối phương “cao tay ấn” đánh cho tơi tả, chạy trốn không còn mảnh giáp, lại phải nhẫn nhục, kiên trì gom góp tàn quân, gan góc cố thủ, suy tính cơ mưu để phục hồi lực lượng, phục kích đối phương nhằm chuyển bại thành thắng. Mỗi nhà cầm quân vừa có tài thao lược vừa phải nắm bắt mọi ý đồ, mưu mẹo của đối thủ, phải “đi guốc trong bụng” địch thủ, phán đoán được chiến thuật chiến lược, điểm mạnh điểm yếu của đối phương. Những tình cảm rất tự nhiên của con người như vui buồn, yêu ghét, tức giận, khoan hòa… đều thể hiện qua cuộc cờ. Trái tim người chơi cờ cũng rung động theo những tình cảm đó, tạo nên niềm say mê không bao giờ dứt.

***
Truyền thuyết kể lại rằng sau khi phát minh ra bàn cờ, nhà phát minh được nhà Vua cho phép tự chọn phần thưởng cho mình. Ông bèn tâu lên: “Muôn tâu bệ hạ, bàn cờ của hạ thần có 64 ô vuông, xin bệ hạ cho đặt ở ô thứ nhất một hạt thóc, ô thứ hai gấp đôi ô thứ nhất tức là hai hạt và cứ như thế số thóc của ô sau gấp đôi ô trước”. Nhà vua thấy rằng những hạt thóc nhỏ bé được đặt vào chỉ có 64 ô cờ chắc chẳng đáng là bao bèn đồng ý ngay và giục quần thần đếm thóc thưởng cho ông. Sau một hồi tính toán, quần thần kinh hãi tâu cho vua biết số thóc ấy là con số : 18 446 744 073 709 551 615 hạt

Một con số lớn khủng khiếp mà nếu quy ra thóc thì toàn bộ số thóc có trong vương quốc cộng với toàn bộ số thóc của các nước lân bang cũng không đủ để thưởng cho nhà phát minh.

Như đã nói trên, quân cờ dần dần được cách điệu hóa và luật chơi cũng hình thành rõ ràng. Nói đúng ra thì luật lệ trò chơi ấy lúc bấy giờ còn đơn giản hơn nhiều so với bây giờ. Các nhà khảo cổ đã khai quật và tìm được những quân cờ nguyên dạng thời đó. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ,văn học cũng đã tìm được những văn bia, bản chép tay, tuy ít ỏi song cũng khá đầy đủ để chứng minh được sự ra đời của trò chơi trí tuệ xuất hiện đầu tiên trên đất nước này.

Ví dụ trong quyển trường ca bằng thơ nhan đề ”Vaxavađata” của nhà thơ Xabar, viết bằng tiếng Phạn vào cuối thế kỷ thứ 6 đầu thế kỷ thứ 7, có một đoạn miêu tả , so sánh một cách dí dỏm :”Ôi, mùa mưa đóng vai trò như một ván cờ, mà quân cờ là những con ếch xanh, những con ếch vàng đang nhảy nhót trong khu vườn muôn màu hoa lá”.

Cũng một bài thơ Ấn Độ khác vào cuối thế kỷ thứ 7, ca ngợi lòng yêu hòa bình và nhân từ của nhà vua Xrihasi trị vì thời bấy giờ. Lời thơ mô tả :”Đất nước của đấng anh minh không có sự hiềm khích ngoài sự tranh đua của những bầy ong, người ta không dẫm chân lên nhau ngoài những dòng thơ ca, các đội quân không đánh nhau, ngoài những đội quân trên bàn cờ”.

Các đoàn thuyền trên biển cả, các đoàn lạc đà chở nặng hàng hóa đi về phía Tây. Những người chủ của những chuyến hàng đã học được khá nhiều điều hay và mới lạ ở những quốc gia mình đã đi qua, đem về kể và truyền lại cho đồng bào mình.Trong số những điều mới lạ ấy có cả trò chơi Saturanga kỳ thú.

Tương tự như thế, trò chơi Saturanga theo những con đường thương mại và Phật đạo, vượt qua bao núi cao vực thẳm sang phía Đông để đặt nền tảng cho cờ Tướng ở Trung Hoa và các nươc Đông Nam Á.

Ở Trung Á, trò chơi ngoại nhập này mau chóng được mọi tầng lớp ưa chuộng. Không những các nhà quyền quí, lái buôn giàu sụ cho mình là ”nhà thông thái”, khoe tài ”đánh trận” mà cả vua chúa, quần thần, tướng lĩnh cho đến những người thợ thủ công chân đất trong giờ nhàn rỗi cũng đọ trí, thử tài với nhau. Do nhiều người chơi cho nên luật đặt ra cũng phải thống nhất. Luật chơi cờ được cải tiến dần, số quân mỗi bên được ấn định đúng với chức năng của nó. Ví dụ quân Xe được thay bằng quân Tháp. Bởi vì khi ấy ở Trung Á người ta không hiểu Xe để làm gì, mà bao giờ ở vành ngoài cùng, để bảo vệ một pháo đài hoặc một kinh đô, cũng là những bức tường thành được biểu hiện bằng những chiếc Tháp. (Trong cờ Vua người ta gọi là quân Xe vì nó nước đi giống như nước đi của quân Xe ở cờ Tướng, nhưng tên đúng của nó là Tháp, hoặc là Thành). Còn voi thì ở Trung Á không có nên họ thay quân Tượng bằng quân khác (ở ta gọi là quân Tượng chỉ vì nó có nước đi chéo giống như Tượng trong cờ Tướng) Cũng nói thêm là khi Saturanga sang đến Trung Hoa thì xuất hiện thêm một quân mới là quân Pháo, lúc đấu là loại “pháo” bắn bằng đá nên chữ Pháo có bộ “Thạch” nằm phía trước, sau này khi pháo dùng thuốc nổ thì người ta đổi bộ “thạch” thành bộ “hoả”. Như vậy Saturanga đến những vùng đất mới nó lại có được những cải tiến thích ứng với quan niệm về thể chế và binh nghiệp tại nơi đó.

 Ở Trung Á người ta đã cải tiến một bước, cờ trở nên gọn nhẹ, linh hoạt và có được những luật chơi ban đầu; điều đó cũng giống như người ta tìm ra được công thức tính diện tích hình tròn. Ngày nay, mỗi học sinh phổ thông đều biết tính diện tích hình tròn bằng công thức đơn giản : S =pR2. trong đó R là bán kính hình tròn. Thủa xưa công thức tính diện tích hình tròn dài lê thê, mô tả đến mấy trang, chữ viết dày đặc, đọc vỡ đầu chưa chắc đã hiểu được, bởi vì thời đó người ta chưa có khái niệm về số p (số pi).

Từ lúc nào thì các qui ước về luật chơi cờ Vua được hình thành gần giống với luật cờ hiện đại ? Theo các nhà nghiên cứu về cờ thì đó là vào cuối thế kỷ 15,đầu thế kỷ 16. Ta cũng nên lưu ý rằng cờ cũng thuộc lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, cho nên nó cũng nẩy nở và phát triển trên mảnh đất nào thấm đượm tính nhân văn của một nền văn hóa phát triển cao. Một nhà sử học người Anh đã định nghĩa về cờ Vua như sau: “Đó là cuộc trò chuyện thân thiết không lời, là hoạt động khẩn trương và căng thẳng trong im lặng. Đó là thắng lợi huy hoàng và cũng là những tấn bi kịch. Là sự hy vọng và nản lòng. Đó là khúc trường ca và cũng là một khoa học. Đó là Phương Đông cổ xưa và Châu Âu hiện đại. Tất cả liên kết với nhau thành một thể thống nhất trên 64 ô vuông.”

Ngay từ thời bấy giờ người ta đã quan niệm trò chơi này như một công cụ của lòng nhân đạo và sự văn minh, bởi vì nó làm cho các hiệp sĩ xao lãng việc chém giết, đổ máu ngoài chiến trường.

Do đó, cũng dễ giải thích tại sao khi Italia và Tây Ban Nha được chiếu sáng bằng ánh sáng của nền văn hóa Phục hưng: những tượng đá hoa cương hùng vĩ của Mikenlang Gielo, những tranh tường kỳ diệu và lộng lẫy của Leona de Vinci, những bức họa huyền ảo kiệt xuất của Raphaen hay hình tượng muôn thuở của hiệp sĩ Đông Kisốt với những chiếc cối xay gió bước ra từ những trang sách của Xervantes, thì cờ Vua ở những nơi đó cũng đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật. Chính tại châu Âu, những cải cách lớn về cờ đã xuất hiện. Lần đầu tiên trên bàn cờ xuất hiện hình tượng người phụ nữ, đó là quân Hoàng Hậu thay thế cho quân “cố vấn” ở bên cạnh Vua trước đó. Quân Hoàng Hậu được ban cho quyền hành rộng lớn nhờ các nước đi ngang dọc tung hoành trên khắp bàn cờ. Bởi vào thời phục hưng, mỹ thuật và lòng cao thượng ngự trị khắp nơi nên vai trò của các Quý cô, Quý bà rất được tôn vinh. Có những quy tắc cứng nhắc hạn chế sự sáng tạo trên bàn cờ cũng dần được gỡ bỏ mà điển hình nhất là nước nhập thành độc đáo: chỉ bằng một nước đi mà Vua có thể được đưa ngay vào vị trí an toàn còn Xe, một quân mạnh lập tức được đưa ra tham gia vào trận đánh.Các nhà cải cách lớn về cờ Vua ở các nước này thời bấy giờ là Luxen, Damiano, Rui Lopes. Các tên gọi “Ván cờ Italia”, “Ván cờ Tây Ban Nha” xuất hiện. Đó không phải đơn thuần là tên gọi của một ván cờ mà là những công trình nghiên cứu nghiêm túc đầu tiên về lý thuyết cờ, nhất là đối với lý thuyết ra quân, một vấn đề gây tranh cãi khá nhiều trong thời kỳ này. Họ đã đạt được những thành tựu đáng kể.

  Hoàng đế nội kinh

Tiện đây cũng nói thêm, cờ Vua có lịch sử ngót một nghìn năm trăm năm nên tên gọi các thế cờ cũng mang tính lịch sử. Ví dụ khai cuộc Reti, phòng thủ Aliokhin, phòng thủ Uphimsep, phòng thủ Philido, Hệ thống Trigôrin, trận Tarras, Gambit Xtaunton … đó là những kiểu khai cục mang tên các nhà chơi cờ lỗi lạc qua các thời đại. Một số vùng có các trường phái cờ nổi bật một thời, các phương án khai cục cũng mang tên địa danh như: phòng thủ Ấn Độ cổ, ván cờ Italia, ván cờ Tây Ban Nha hệ thống Seveninghen (tên một thành phố ở Hà Lan), Gambit Buđapet (thủ đô Hungari), phòng thủ Slavơ (tên một dân tộc), phòng thủ Xixili (một hòn đảo của Italia), ngoài ra còn có ván cờ Hungari, ván cờ Anh, phòng thủ Pháp, ván cờ Nga, phòng thủ Hà Lan, phòng thủ Xcanđinavơ … mang tên các quốc gia đã có những đóng góp xứng đáng cho sự phát triển môn thể thao này.

Lại có những phương án khai cục khác được gọi bằng chính tên quân cờ: phòng thủ hai Mã, Gambit cánh Hậu, Gambit cánh Vua, khai cuộc Tượng, khai cuộc ba Mã…)

Tuy nhiên,điểm thiếu sót của các nhà lý thuyết lúc bấy giờ là chưa kịp đề cập đến vị trí then chốt của khu trung tâm. Dù trong lý thuyết lúc đó có đề cập đến những nước đi đầu tiên tới khu trung tâm song mục đích chỉ là để mở đường cho Hoàng Hậu và Tượng nhanh chóng công phá vị trí Vua đối phương. Các nhà cải cách này chủ trương sử dụng những đợt tấn công như vũ bão, có thể thí bỏ hẳn một số quân yếu như Tốt chẳng hạn, để tiến công thẳng vào bắt Vua đối phương. Cách đánh dũng mãnh kiểu hiệp sĩ này thời bấy giờ rất được ưa chuộng, thịnh hành và tồn tại đến vài trăm năm. Cho mãi đến thế kỷ thứ 18, khi được phân tích kỹ càng để chỉ ra được những nhược điểm của nó, cách chơi này mới chấm dứt.

1.2. Các huyền thoại cờ vua thế giới

            1.2.1. Bobby Fischer

            Một thời từng được coi là anh hùng dân tộc và được một số người đánh giá là nhân tài cờ vua của mọi thời đại, chàng trai sinh ra ở Chicago này đã có những phản ứng rất khó hiểu với công chúng, bằng những cử chỉ giận dữ, sự hờn dỗi kéo dài hàng thập kỷ, và những ý kiến rất gay gắt.

            Ba năm sau giành danh hiệu vô địch cờ vua thế giới, Fisher đã trao nó cho nhà vô địch cờ vua Liên Xô Anatoly Karpov, khi từ chối thi đấu bảo vệ danh hiệu của mình.

            Chiến thắng của Fischer trước Spassky đã chấm dứt sự thống trị của hệ thống cờ vua dường như bất khả chiến bại của Liên Xô. Từ cuối những năm 1920 đến 1972, Liên Xô luôn nắm giữ danh hiệu vô địch thế giới, ngoại trừ hai năm.

            Phong cách chơi cờ của Fischer thường rất hiếu chiến. Không giống như nhiều kiện tướng khác, ông luôn luôn cố gắng giành chiến thắng trong mỗi ván cờ, thay vì một ván hòa, thậm chí là ngay cả khi ông chơi với quân đen, không có lợi thế đi trước như quân trắng.

            Fischer nổi tiếng với sự tính toán theo lôgic toán học, chứ không đơn thuần dựa vào trực giác.

Fischer trong mắt các đối thủ 

            Nhà vô địch cờ vua của Liên Xô Spassky từng bị Fisher đánh bại hiện đang sống ở Paris. Spassky có ít điều để nói về đối thủ một thời của mình. Khi được hỏi về cảm giác của ông trước tin Fischer qua đời, Spassky nói: “Thật không may cho ông ấy.”

            Còn nhà cựu vô địch cờ vua thế giới Garry Kasparov ca ngợi Fischer là nhà tiên phong của môn cờ vua: “Chúng ta đã mất một con người lớn”, Kasparov phát biểu tại Mátxcơva. “Ông ấy luôn luôn có một mình… nhưng khi một mình ông ấy đã chứng tỏ rằng con người có khả năng đạt được những tầm cao mới”. Ngoài ra Karpov còn gọi Fischer là “một ông lớn trong làng cờ, với một nhân cách đặc biệt”. Tuy nhiên Karpov cho rằng Fischer đã tránh thi đấu với ông: “Tôi không muốn nói là ông ấy sợ, nhưng ông ấy chắc hẳn đã có cảm giác là ông ấy sẽ thua”.

Nhà vô địch cờ vua Viswanathan Anand gọi Fischer là một người lãng mạn: “Ông ấy đã đánh bại được cả một hệ thống”.

            Kiện tướng cờ vua Nga Mark Taimanov, người đã từng thua Fischer năm 1971 cho biết: “Cả cuộc đời ông ấy bị bàn cờ, cờ vua chi phối, và đó có thể là lý do vì sao ông ấy giỏi đến vậy”. Và Taimanov còn phát hiện ra: “Ông ấy qua đời ở tuổi 64, một con số có tính biểu tượng lớn. Bởi 64 cũng là con số tượng trưng cho bàn cờ”.

Sự nghiệp của Fischer

            Năm 13 tuổi Fischer đã trở thành nhà vô địch cờ vua Mỹ ở cấp thấp. Và năm 14 tuổi, Fischer bảo vệ thành công danh hiệu này. Năm 15 tuổi, Fischer trở thành kiện tướng quốc tế, trong cuộc thi đấu quốc tế đầu tiên của mình ở Yugoslavia. Fischer đã từng liên tục đánh bại 21 kiện tướng, điều mà chưa một người Mỹ nào làm được.

            Khi đã trở nên nổi tiếng, Fischer cũng trở nên khó đoán hơn. Anh đã bỏ dở cuộc chơi chỉ vì lý do đèn không được sáng, hay điều hòa không được tốt.

            Giữa những năm 1960, anh không tham gia hai cuộc xếp loại vô địch thế giới, bởi cho rằng ban tổ chức thiên vị người Nga. Năm 1957, khi nhà tổ chức không đáp ứng yêu cầu về điều kiện điều hòa tốt hơn của anh, Fischer đã giận dữ bỏ dở cuộc thi, và dành thời gian “để suy nghĩ”.

            Rồi Fischer mang tất cả sách vở về cờ vua của mình tới California. Tại đây anh cho biết đã “lên kế hoạch trả thù nếu tôi có quay trở lại”. Và khi luật chơi thay đổi vào năm 1972, Fischer vẫn chứng tỏ được rằng ông luôn luôn chơi tốt.

            Những sự kiện khiến nhà vô địch cờ vua người Mỹ dành những năm tháng cuối đời của mình ở thành phố mà ông đã có chiến thắng vào năm 1972 cũng rất kỳ lạ. Cho tới những năm 1990, được biết Fischer sống dưới những cái tên giả trong các khách sạn rẻ tiền ở Pasadena, ngoại ô của Los Angeles, dựa vào số tiền bán sách ít ỏi.

            Sau khi giành chiến thắng trong trận đấu ở Yugoslav, ông kiếm được 3 triệu USD. Ông đã đi khắp nơi trên thế giới, là nhân vật bị Mỹ truy nã. Sau vụ tấn công 11/9, ông đã “tái xuất” trong một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh Philippine.

            Năm 2004, ông bị giam ở Nhật vì dùng hộ chiếu đã bị thu hồi. Trong thời gian 8 tháng trong tù, Mỹ đã tìm mọi cách để dẫn độ ông về nước nhưng không thành. Tháng 3/2005, Iceland đã đồng ý cho ông tị nạn.

            Một người bạn của Fischer cho biết tháng 10 năm ngoái ông đã được đưa tới bệnh viện. Nhưng vì không tin tưởng các bác sỹ, ông đã về nhà và được bạn bè chăm sóc cho đến khi qua đời.

            Einar Einarsson, người đã đấu tranh để đưa Fischer từ Nhật về Iceland cho biết Fischer thích sống ở Iceland, nhưng đôi lúc, ông vẫn cảm thấy tù túng vì không thể đi đâu được.

            Mặc dù từng được coi như vị “anh hùng” của Mỹ trong trận chiến cờ vua với Boris Spassky dưới thời chiến tranh lạnh năm 1972, nhưng ông lại sống những năm tháng cuối đời như một kẻ đào tẩu tại Iceland. , huyền thoại cờ vua đã qua đời vì đau ốm vào giữa ngày thứ năm 17-1-2008 tại Reykjavik, nơi đã diễn ra trận “quyết chiến” của ông với Boris Spassky 36 năm về trước.

            Một nhà bình luận đã từng nói rằng có một hằng số xuyên suốt cuộc đời Fischer, đó là “cuộc chiến chạy trốn đối với cuộc đua của nhân loại”.

            1.2.2. Mikhail Moiseyevich Botvinnik (tiếng Nga: Михаи́л Моисе́евич Ботви́нник) (17 tháng 8 năm 1911 – 5 tháng 5 năm 1995)

            Ông là một đại kiện tướng quốc tế cờ vua người Nga và là kì thủ duy nhất từng 3 lần vô địch thế giới. Ông sinh ở Kuokkala, gần Vyborg, con của một nha sĩ, được biết đến trong giới cờ vua năm 14 tuổi khi đánh bại nhà vô địch Thế giới người Cuba, José Raúl Capablanca, trong một trận đấu biểu diễn đồng thời (một mình đấu với nhiều kì thủ trên nhiều bàn) của Capablanca.

            Botvinnik là nhà kĩ sư chuyên ngành điện, ông học sau đại học tại Leningrad, và thậm chí lấy bằng tiến sĩ (vào khoảng cuối thập niên 1940). Tuy là kì thủ nghiệp dư nhưng ông tự mình đề ra và tuân thủ chế độ luyện tập môn thể thao trí tuệ này.

            Năm 1948, Khi Alekhine mất đột ngột, các kiện tướng hàng đầu thế giới tham gia một trận đấu để chọn ra nhà vô địch thế giới mới tại Moskva. Bovinnik đã thắng giải đấu này (+10=8–2), đứng trên Smyslov, Keres, Reshevsky và Euwe. để trở thành vua cờ thế giới. Ông giữ danh hiệu vô địch một thời gian gần như liên tục suốt 15 năm (1948 – 1963). Mặc dù có hai lần tạm thời mất danh hiệu này vào tay Smyslov (năm 1957) và Mikhail Tal (năm 1960) nhưng ông đều giành lại ngay các năm sau đó, trước khi bị Petrosyan đánh bại vào năm 1963.

            Botvinnik có khả năng đánh giá cục diện thế cờ, cần mẫn trong phân tích các ván đấu tạm hoãn, với kĩ thuật tàn cuộc xuất sắc; và đặc biệt, những thành công của ông đều từ sự chuẩn bị rất kĩ lưỡng. Botvinnik tự mình đặt ra các chế độ sinh hoạt và rèn luyện thể lực rất đều đặn trước những giải đấu lớn.

            Botvinnik là người đã đưa ra một số lý thuyết mới về cờ vua và các phương pháp huấn luyện cờ vua. Ông đã từng là thầy của Karpov và Kasparov.
Ngày 5-5-1995,Vua Cờ Botvinnik đã ra đi mãi mãi vào cõi vĩnh hằng,hướng thọ 84 tuổi.Ông để lại cho hậu thế cả 1 sự nghiệp lẫy lừng,và để lại cho nhân loại cả môn kho tri thức đồ sộ về Cờ Vua,môn thể thao trí tuệ mà ông luôn yêu thích và gắn cả cuộc đời mình với nó

            1.2.3. Emanuel Lasker 

            Lasker có dáng người tầm thước, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, thưởng có nụ cưới châm biếm trên môi. Trong con người ông kết hợp được một cách hài hoa đặc tính của một nhà khoa học thông minh, lanh lợi với phong cách tươi mát của một nghệ sĩ. Tính cách của ông hấp dẫn mọi người. Đã có nhiều sách viết về ông, song lại không phải viết về những công thức toán học hay tâm lý học mà là viết về sự nghiệp thứ hai của ông chói lọi hơn nhiều – Cờ Vua , sự nghiệp của cả một đời, mà nổi bật nhất là trong 27 năm liền giữ chức vô địch thế giới, điều mà các nhà vô địch từ cổ chí kim chưa ai làm nổi.

  Võ kinh thất thư

Năm 1894, trận đấu tranh chức vô địch thế giới đầu tiên, Steinitz đã 56 tuổi . Với một phong cách đánh dứt khoát và sắc bén ở tuổi đang sung sức, Lasker đã hạ Steinitz với tỉ số 10-5 đoạt dễ dàng vòng hoa chiến thắng và trở thành nhà vô địch thứ hai thế giới của cờ Vua. Với một tài nghệ phi thường cùng với một sức khỏa dẻo dai, những năm sau đó, cứ mỗi năm lại một lần ông lại đem danh hiệu của mình ra, thách đố với đấu thủ cờ nào kiệt xuất nhất và liên tục giành thắng lợi như chẻ tre.

            Lasker có những quan niệm độc đáo về cờ. Có lần người ta hỏi Rubeinstein (một danh thủ lẫy lừng cùng thời với Lasker): “ Hôm nay ông chơi với ai?” ông trả lời : “Hôm nay tôi chơi quân Trắng chống quân Đen, còn chuyện chơi với ai chả có ý nghĩa gì hết!” . Ngược lại Lasker có một quan điểm khác: “Trong ván cờ, không phải các quân cờ chống chọi nhau, mà là những người đấu trí với nhau” . Trước mỗi trận đấu ông tìm hiểu kỹ càng đối thủ của mình. Ông tâm sự : “Ván cờ là một cuộc đấu có sự tham gia của nhiều yếu tố khác nhau nhất. Bởi vậy hiểu biết những mặt mạnh , mặt yếu của đối thủ là hết sức quan trọng… Biết bao điều bổ ích bạn có thể rút ra được khi họ nghiên cứu đối thủ và các ván cờ của họ”.

            Lasker không ưa cách học vẹt các thế biến khai cuộc . Ông nói: “Biêt cách chơi cờ không phải là công việc của trí nhớ đơn giản. Việc ghi nhớ các thế biến không phải là trọng yếu nhất. Trí nhớ là thứ vũ khí quý báu, không nên phung phí cho những điều vụn vặt. Phải nắm vững phương pháp chơi”.

            Các ván cờ của Lasker thiên biến vạn hóa, không theo một quy luật cứng nhắc nào. Ông đã viết nhiều sách bàn về giai đoạn cờ tàn. Ông đã để lại cho các bạn chơi cờ những lời khuyên chân thành: “Tôi muốn đào tạo các học trò biết cách phê phán các tài liệu. Trong môn cờ, tôi không muốn tặng cho họ các khái niệm trừu tượng hay những luận điểm chung mà là những kiến thức thật sự sinh động. Họ hãy thử thách mình bằng những trậu đấu” .

            Tên tuổi Lasker thật sự chói ngời. Nó gắn liền với cờ Vua trong hàng loạt tên gọi và các phương án khai cuộc, thậm chí cả đòn chiến thuật. Lasker là một tấm gương sáng cho biết bao kỳ thủ trẻ noi theo trên đường đi đến sự nghiệp vinh quang của họ .

            1.2.4. Alekhine – mãi là nhà vô địch

            Đã là trẻ con thì không thể không có đồ chơi. Cậu bé Alekhine cũng lôi các thứ đồ chơi rồi bày ra đủ trò. Song chơi mỗi trò chỉ được ít lâu là cậu thấy chán. Duy chỉ có bàn cờ với 64 ô đen trắng và 32 quân là làm cho cậu chơi mãi vẫn thấy thú vị. Quân đi thiên biến vạn hóa mới thấy hấp dẫn làm sao! Cậu ngồi hàng giờ suy nghĩ tìm ra nước cờ hay rồi tự mỉm cười hài lòng với chính mình. Ở cậu bé trầm tư này, đó có lẽ là trò chơi duy nhất mà cậu thấy thích hợp với mình. Tối đến khi mẹ về, cậu vẫn cứ ngồi lầm lũi ngồi bày các thế cờ để giải, làm bà mẹ cũng tò mò, không khỏi ngạc nhiên.

            Đến 15 tuổi thì Alekhine đã tham gia nhiều cuộc thi đấu quốc tế lớn. Chàng thiếu niên ngồi chơi đàng hoàng với các bậc đàn anh, thậm chí với các bậc chú bác của mình, gây nên sự chú ý to lớn. Đến năm 21 tuổi thì những đấu thủ sừng sỏ lần lượt công nhận tài năng rõ rệt của chàng trai người Nga này. Chàng chỉ còn đứng sau hai người khổng lồ là Lasker và Capablanca.

Alekhine thường nói: “Đấu cờ , trước hết là đặc tính của con người. Mỗi địch thủ đếu có ý chí, có tính toán và mang đầy đủ các đặc tính cá nhân của họ. Chính cờ tạo ra tính cách của con người. Qua sai lần và thất bại, bạn sẽ trở thành một đại kiện tướng xứng đáng. Đối với tôi điều đó hoàn toàn đúng” .

            Đỉnh cao tài năng của Alekhin là trận đấu với Capablanca ở Buenos Aires ngày 16 tháng 9 năm 1927.

            Ngay từ ván đầu tiên, hai bên đã cho công chúng thấy rõ tài nghệ của mình. Capablanca chơi với lòng tự tin vào bản lĩnh của mình còn Alekhine đáp lại bằng quyết tâm chiến thắng cao độ. Chẳng mấy chốc thế trận mỗi lúc một thêm ngoạn mục. Bất thần bằng một nước đi được tính toán chính xác tuyệt đối, Alekhine bắt được một quân và từ đó lợi thế nghiêng về phía ông. Tận dụng lợi thế, bằng những nước tiếp theo không hề lầm lẫn, ông đã kết thúc thắng lợi mở màn ở nước đi thứ 44 .

            Với tài năng xuất chúng của minh, Capablanca đã cân bằng tỷ số 1-1. Alekhin đã đánh bại “huyền thoại về chơi cờ tàn” của Capablanca và nâng tỷ số lên 3-1. Tiếp sau đó là những ván hòa liên tục. Kết thúc ván thứ 68 thì tỷ số là 4-2 nghiêng về phía Alekhine. Ván 29 được các chuyên gia coi là ván lịch sử. Alekhine chỉ cần hòa là nắm chắc òng nguyệt quế . Nhưng thắng lợi ở ván thứ 29 của Capablanca không chỉ làm cho tỷ số 4-3 mà còn đặt Alêkhin vào một thử thách khó khăn về tâm lý.

            Trong ván cuối cùng, ván thứ 34 , đã bộc lộ tài năng tuyệt vời của Alekhine, ông đã chiến thắng khi cờ tàn còn Xe và Chốt. Ván cờ này nhiều năm sau và cho đến nay vẫn được đưa vào các sách giáo khoa làm một ví dụ mẫu mực về cờ tàn.

            Alekhine có một trí nhớ tuyệt vời, ông có thể nhớ không sai tất cả các ván cờ hay của các tay cờ cự phách trong vòng 60-70 năm. Là người chơi cờ “mù” rất giỏi (bịt mắt và tưởng tượng) , Alekhine có thể chơi cùng lúc 32 ván cờ với 32 người khác nhau và thắng tới 30 ván còn lại 2 ván hòa ! Ông kể lại rằng : “Hồi bé, tôi có thói xấu là hay chơi cờ trong giờ học. Một lần bị thầy giáo phát hiện, phạt và thu bàn c ờ, chúng tôi buộc phải đánh tiếp bằng tưởng tượng. Từ đấy , tôi thấy đánh “ mù” ít nguy hiểm hơn (!) và có lợi khi tính toàn trong thi đấu. Kể chuyện này tôi không có ý khuyên các bạn nên làm điều xấu. Song nếu thuộc bàn cờ thì rất có lợi”.

Song cũng không nên cho rằng Alekhine không có sở thích gì ngoài đánh cờ. Ông là người biết thông thạo nhiều ngoại ngữ, đọc nhiều sách văn học, đồng thời lại là người sành âm nhạc và am hiểu hội họa. Ngoài cờ, ông ham thích bơi lội, chơi quần vợt và đua xe đạp.

            Đêm 25 tháng 3 năm 1946 ông mất đột ngột tại Paris. Cái chết bí hiểm của ông được giải thích do bệnh tim. Tấm ảnh cuối cùng còn chụp được khi ông chết cho thấy ông đang ngồi dựa trong chiếc ghế bành, bên cạnh là những quyển sách và phía trước ông, trong rất rõ là một bàn cờ có đủ 32 quân. Ông ngồi đó, mắt nhắm lại như đang suy nghĩ, có lẽ ông đang nghĩ về một thế cờ ở tàn cuộc hay một biến khai cuộc hoàn toàn mới?

            Alekhine đã trở thành bất tử trong lịch sử cờ Vua. Ông là nhà vô địch duy nhất không bị hạ bệ. Khi vẫn còn đang khoác vòng nguyệt quế vinh quang, ông đã ra đi vĩnh viễn trong niềm thương tiếc của bao người. Alekhine, tên ông được gắn liền với nhiều ván cờ được coi là giáo khoa mẫu mực. Tên ông được lập đi lập lại trong biết bao thế cờ xuất sắc tuyệt diệu, có cả khai cuộc mang tên Alekhine. Các tài liệu cờ , các sách giào khoa đều nhắc đến ông.

            Alekhine là thần tượng của hàng triệu đấu thủ trẻ. “Huyền thoại Alekhine” vẫn mãi làm mọi người rung động và mến phục.

            Liên đoàn Cờ Việt Nam (tiền thân là hội Cờ Tướng Việt Nam) được thành lập ngày 14/02/1965 tại Nhà khai trí kiến thức (nay là Trung tâm phương pháp Câu lạc bộ – 14 Lê Thái – Tổ Hà Nội) do bác sĩ Lê Đình Thám là Chủ tịch Uỷ ban hoà bình Việt Nam, Uỷ viên Uỷ ban hoà bình thế giới làm Hội trưởng. Trong hoàn cảnh chiến tranh chống đế quốc Mỹ, Hội Cờ tướng Việt Nam đã tổ chức được 3 giải vô địch toàn miền Bắc và mời đoàn Cờ Tướng Trung Quốc sang thi đấu hữu nghị. Sau này, vì không đủ điều kiện nên chỉ tổ chức được những giải nhỏ ở Hà Nội. Năm 1975, Hội Cờ gần như không còn hoạt động, duy nhất chỉ còn ông Lê Uy Vệ, còn những người khác, người thì chuyển công tác, người thì nghỉ hưu nên đã giải thể. Tháng 8 năm 1976, Việt Nam nhận được thư mời tham dự cuộc thi đấu Cờ Vua tổ chức tại thành phố Tôvipôli (thủ đô Libi) do Liên đoàn Cờ của các nước Ả Rập tổ chức và Libi là nước đăng cai. Ở Việt Nam thời gian này, Cờ Vua chưa phát triển, chỉ có một số người chơi ở một vài thành phố. Với sự ghi nhận về tương lai phát triển môn Cờ Vua ở Việt Nam, Tổng cục TDTT đã cử một đoàn đến tham dự với tư cách là quan sát viên. Đại hội lần này có 44 nước tham gia với đủ các thành phần lứa tuổi nam, nữ, có VĐV nữ 13 – 14 tuổi, có vị là nghị sỹ quốc hội ở tuổi 60.

Năm 1978 Tổng cục TDTT đã ra chỉ thị số 73/CT để hướng dẫn phong trào Cờ Vua rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân, nhất là đối với thanh thiếu niên, học sinh.

Ngày 05/08/1980 Bộ Giáo dục đã ra văn bản số 1787/TDQS về việc chính thức đưa Cờ Vua vào giảng dạy trong các trường phổ thông, các trường Cao đẳng, Đại học sư phạm và trường Đại học TDTT trên phạm vi toàn quốc.

Ngày 15/12/1980, Hội Cờ được thành lập lại, lấy tên là Hội Cờ Việt Nam do ông Hồ Trúc, Thứ trưởng Bộ Giáo dục làm Hội trưởng. Trước bối cảnh mới, Hội đã mạnh dạn đưa môn Cờ Vua vào Việt Nam và thực tế đã chứng minh cho quyết định sáng suốt đó: Cờ Vua Việt Nam bước đầu đã phát triển sâu, rộng ở mọi đối tượng trong xã hội.

Nước ta có nhiều môn thể đang được phát triển, giờ đây lại được bổ sung thêm một môn thể thao mới thì hoạt động TDTT càng thêm phong phú, đa dạng. Cờ Vua góp phần đáng kể vào các sinh hoạt văn hóa lành mạnh của quần chúng nhân dân và góp phần xây dựng con người mới Xã hội chủ nghĩa.

Tháng 10/1984, Hội Cờ Việt Nam chính thức là thành viên của Liên đoàn Cờ châu Á và năm 1988, Việt Nam được chính thức công nhận là thành viên của Liên đoàn Cờ Vua thế giới (FIDE). Cuối năm 1991, Hội Cờ tổ chức Đại hội toàn quốc lần II và đổi tên thành Liên đoàn Cờ Việt Nam do ông Nguyễn Hữu Thọ, Tổng biên tập báo Nhân Dân làm Chủ tịch. Cũng từ Đại hội này, môn Cờ Tướng được đưa vào thi đấu. Như vậy, quá trình tồn tại và phát triển của Liên đoàn Cờ Việt Nam đã có một bề dày thời gian và lịch sử hào hùng, tuy bước hội nhập của môn Cờ vào làng Cờ khu vực và thế giới còn ngắn ngủi (Cờ Vua năm 1988, Cờ Tướng năm 1993), nhưng Liên đoàn Cờ Việt Nam đã đóng góp cho làng Cờ khu vực và thế giới 18 Kiện tướng FIDE, Kiện tướng quốc tế, và 2 Đại kiện tướng…

  Truyện Kiều

Hiện tại, Liên đoàn mới đưa thêm môn Cờ Vây vào Việt Nam, và đã tổ chức được một lớp HLV cho các địa phương. Bộ môn mới mẻ này bước đầu đã có những tín hiệu đáng mừng, đặc biệt ở hai thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Với những bối cảnh như vậy, Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Liên đoàn Cờ Việt Nam đã được tổ chức vào ngày 28/09/1997 và ông Nguyễn Minh Hiển – Uỷ viên Trung ương Đảng – Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo được bầu làm Chủ tịch Liên đoàn Cờ Việt Nam. Đại hội đã tổng kết và đề ra phương hướng hoạt động đổi mới nhằm đẩy mạnh sự phát triển môn Cờ Vua, Cờ Tướng nước ta trong giai đoạn mới.

Sau 5 năm phát triển (1990 – 1995), đã có 20 ngành, địa phương xây dựng được phong trào ở môn thể thao này. Khi đó, có một số địa phương đã đưa môn Cờ Vua vào chương trình hoạt động của các trường và tổ chức đào tạo VĐV Cờ Vua ở một số trường năng khiếu TDTT cơ sở. Từ đó, Hội Cờ Việt Nam (sau này là Liên đoàn Cờ Việt Nam), tổ chức đều đặn giải vô địch toàn quốc hàng năm cho thanh thiếu niên, học sinh và người lớn. Năm 1980, tại giải vô địch toàn quốc được tổ chức ở Hà Nội đã áp dụng luật thi đấu của FIDE và ở các tỉnh, thành đều có tổ chức thi đấu xếp hạng để tuyển chọn VĐV, đặc biệt là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức thi đấu cho nữ thanh niên. Những năm gần đây, phong trào Cờ Vua phát triển rất mạnh mẽ trên phạm vi toàn quốc. Nhiều nơi phong trào đã biểu hiện chiều sâu với hàng loạt trung tâm Cờ Vua được thành lập và tổ chức hoạt động như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Thanh Hóa, Đồng Tháp…

Hàng năm, giải Cờ Vua cho các đối tượng được tổ chức rộng rãi. Đỉnh cao về qui mô phong trào là các giải Cờ Vua A1, A2, giải các đấu thủ mạnh, cũng như giải Cờ Vua cho học sinh, sinh viên được tổ chức định kỳ và đặc biệt giải Cờ Vua trong khuôn khổ Hội khỏe phù đổng II (1992), Hội khỏe phù đổng III (1996), mỗi giải đều có trên 500 VĐV nam nữ tham gia. Ngoài các giải trong nước, đội tuyển Cờ Vua quốc gia với các lứa tuổi đã được hình thành thông qua các giải toàn quốc. Các đội tuyển đó thường xuyên tham dự các giải thi đấu quốc tế và đã gặt hái được không ít những thành công: Đạt 4 huy chương vàng lứa tuổi từ 12 đến dưới 20 và được FIDE phong cấp Đại kiện tướng thế giới cho 2 VĐV, cùng với gần 20 VĐV khác đạt danh hiệu Kiện tướng thế giới, Kiện tướng FIDE. Gần đây nhất tại các giải vô địch Cờ Vua châu Á, giải trẻ thế giới, các VĐV Việt Nam một lần nữa lại chứng tỏ được khả năng và trình độ của mình trong môn thể thao này.

Cờ vua là gì? Hướng dẫn cách chơi cờ vua cơ bản

Bên cạnh cờ vây, cờ tướng… cờ vua là một môn thể thao trí tuệ được rất nhiều người trên thế giới yêu thích. Trò chơi có tác dụng thư giãn nhẹ nhàng, tăng khả năng tư duy và phù hợp với mọi lứa tuổi.

Cờ vua là gì?

Cờ vua là một trò chơi giữa hai kỳ thủ sử dụng trí tuệ của mình kết hợp với chiến thuật hợp lý để đạt được mục đích cuối cùng là ăn quân Vua của đối phương. Bên cạnh đó, bạn cũng phải tìm cách bảo vệ quân Vua của mình không bị bắt. Để thực hiện được mục tiêu này, người chơi cần bắt càng nhiều quân đối phương càng tốt hoặc ngăn đối phương ăn quân của bên mình.

Mỗi quân cờ vua có phải đi theo đúng phương thức mà trò chơi đã quy định kèm theo vô vàn luật lệ mà những người mới chơi không thể thấy trước hay hiểu được lúc bắt đầu. Cho nên, các bạn hãy thật kiên nhẫn bởi càng chơi bạn sẽ nhận ra điểm thú vị đặc biệt của bộ môn này đó.

Giới thiệu về bàn cờ vua và quân cờ

Bàn cờ vua

Bàn cờ vua có hình vuông chia ra thành 64 ô vuông nhỏ gồm 32 ô trắng và 32 ô đen sắp xếp xen kẽ nhau. Các ô ngang được đánh dấu bằng chữ cái từ A đến H, ô dọc đánh dấu bằng số từ 1 đến 8.

Quân cờ

Các quân cờ có màu đen và màu trắng tương ứng với quân hai bên của người chơi. Mỗi quân cơ sẽ có cách phân biệt bằng tên và hình dáng với hướng di chuyển riêng. Cụ thể như sau:

  • Tốt: Mỗi bên sẽ có 8 quân tốt và đây là quân cờ cơ bản nhất trong cờ vua. Trong lần di chuyển đầu tiên, Tốt được quyền di chuyên lên phía trước 1 hoặc 2 ô. Nhưng những nước đi sau đó chỉ được tiến lên 1 ô. Quân này chỉ được tấn công các quân khác nếu nằm chéo về phía trước 1 ô và không thể đi lùi.
  • Xe: Xe trông giống như một tòa tháp trong lâu đài và mỗi bên có 2 quân Xe. Quân này được phép di chuyển ngang hoặc dọc với điều kiện không có quân cờ khác cản được đi tới vị trí mong muốn. Xe có thể tấn công và ăn quân khác nằm trên đường đi của nó.
  • Mã: Chúng ta không khó để nhận biết quân Mã bởi nó có biểu tượng hình con ngựa. Nước đi của quân Mã khá phức tạp. Mã đi theo hình chữ “L” tạo từ 2 ô ngang và 1 ô dọc hoặc 2 ô dọc và 1 ô ngang di chuyển theo mọi hướng tùy thích. Đặc biệt, Mã là quân cờ duy nhất có thể nhảy qua những quân khác. Nó chỉ có thể tấn công các quân khác nằm trong ô mà nó nhảy tới.
  • Tượng: Tượng có hình như chiếc mũ của giám mục Thiên Chúa Giáo. Ưu điểm của tượng chính là di chuyển theo đường chéo bao nhiêu ô tùy thích chỉ cần không bị quân cơ khác cản.
  • Hậu: Có thể nói, Hậu là quân cờ quyền lực nhất trên bàn cờ, thường có hình vương miện nữ tính hơn quân Vua. Quân Hậu có thể di chuyển ngang, dọc và chéo tùy ý và có thể tấn công theo mọi hướng.
  • Vua: Vua chỉ có thể di chuyển mỗi ô một nước theo mọi hướng và cách tấn công cũng tương tự như vậy. Đây cũng là quân cờ mà bằng mọi giá bạn phải bảo vệ, không thể để mất. Nếu mất quân cờ này đồng nghĩa với việc bạn sẽ thua cuộc.

Cách sắp xếp bàn cờ vua

Sau khi đã nhận biết và làm quen với các quân cờ, bạn hãy sắp xếp chúng vào bàn cờ để có thể bắt đầu ván đấu. Đặt bàn cờ sao cho ô cuối cùng ở mỗi bên có màu trắng. Cách sắp xếp quân cờ như sau:

  • Đặt tất cả quân Tốt vào hàng thứ 2 ở trước mặt tạo nên một “bức tường” ngăn cách giữa các quân cờ khác của bên bạn và đối thủ.
  • Xếp quân Xe vào góc bàn cờ ở bên bạn.
  • Đặt mỗi quân Mã bên cạnh một quân Xe và quân Tượng nằm bên cạnh quân Mã.
  • Đặt quân Hậu vào 1 trong 2 ô còn lại ở hàng thứ nhất tùy vào màu của quân đó. Với quân Hậu đen thì đặt nó vào ô đen và quân Hậu trắng vào ô trắng.
  • Cuối cùng, bạn hãy đặt quân Vua vào ô còn lại. Sau đó, kiểm tra lại bố cục của các quân cờ bên đối phương có giống như vậy không. Hai quân Hậu và Vua ở hai bên phải đối diện nhau.

Luật chơi cờ vua cơ bản

  • Sau khi sắp xếp bàn cờ xong, hai kỳ thủ sẽ tiến hành di chuyển luân phiên các quân cờ theo hướng đi đã quy định ở phía trên khi đến lượt đánh của mình.
  • Mục tiêu cuối cùng của hai bên người chơi đó là ăn quân Vua của đối phương. Nước đi khiến quân Vua phải né, chạy trốn được gọi là “chiếu tướng”. Bên nào chặn được hết đường chạy của Vua thì sẽ thắng.
  • Trong trường hợp hai bên không còn thêm nước đi nào thì sẽ xử hòa.
  • Khi bạn di chuyển quân cờ tới ô khác mà ô đó đang có quân cờ ở phía đối thủ đứng thì người chơi có quyền ăn quân đó.

Trên đây là những thông tin cơ bản nhất về bộ môn cờ vua mà chúng tôi muốn gửi tới các bạn. Trong từng tình huống cụ thể, bạn phải linh hoạt nước đi của mình để ứng phó lại chiến thuật của đối phương, đồng thời phát triển các nước cờ của mình.

10 nguyên tắc trong khai cuộc cờ vua

Phát triển quân là nguyên tắc quan trọng nhất trong khai cuộc cờ vua, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề khác kỳ thủ cần dè chừng.

Ba nguyên tắc đầu tiên đều nhấn mạnh vào một điểm, đó là phát triển quân, theo video từ Chess.com. Bởi lời khuyên quan trọng bậc nhất trong cờ vua là tận dụng hết sức mạnh của các quân cờ.

Các nguyên tắc còn lại là đừng đi một quân hai lần trong khai cuộc, nhập thành sớm, đừng đưa hậu ra trận sớm, nghĩ tới mối đe dọa của đối phương, phát triển quân với một mục đích rõ ràng và liên kết hai xe.

Người mới học chơi cờ cần chú ý đến các nguyên tắc này, hiểu được mục đích của các khai cuộc. Còn những cao thủ sẽ ghi nhớ nhiều khai cuộc để ứng phó với đối phương, và giảm thời gian tính toán trong những nước đầu tiên. Theo Oxford Companion, có 1.327 khai cuộc đã được đặt tên và các biến thể của nó.

Nhưng không phải lúc nào cũng tuân thủ các nguyên tắc. Yếu tố tiên quyết là phân tích mối nguy hiểm từ nước đi mà đối thủ tạo ra. Nếu đối thủ mắc sai lầm, chúng ta có thể phá bỏ quy tắc để trừng phạt họ.

Đòn phối hợp nào mạnh nhất trong cờ vua?

Nước chiếu đôi được coi là chiến thuật mạnh nhất trong cờ vua, khi nó buộc vua đối thủ phải di chuyển.

Chiến thuật và chiến lược cờ vua
Video trên từ Chess.com nêu những chiến thuật và chiến lược cơ bản cho người chơi cờ sau khi học các nước đi. Chiến thuật chiếm 90% giá trị trong cờ vua, nhưng chiến lược lại là bàn đạp để phát hiện ra các đòn phối hợp.

Phổ biến nhất là đòn bắt đôi, tức là di chuyển một quân để cùng lúc tấn công ít nhất hai quân của đối thủ. Tuy nhiên, đòn này chỉ hiệu quả khi đối phương không bắt lại được quân ta.

Tiếp theo là đòn ghim. Sự lợi hại của đòn này là khi ta tấn công, quân đối thủ không thể hoặc không nên di chuyển vì sẽ mất quân quan trọng hơn. Ngược lại là đòn xiên. Đó là khi ta tấn công một quân giá trị, buộc đối thủ phải di chuyển để sau đó ta bắt quân khác.

Tuy nhiên, mạnh nhất vẫn là đòn chiếu đôi. Khi đó, hai quân ta cùng lúc chiếu vua đối phương. Không còn cách nào khác, đối phương phải chạy khỏi vị trí bị chiếu vì không thể cùng lúc che chắn cả hai đường chiếu hoặc tiêu diệt cả hai quân đang chiếu.

Súng trường tấn công AK-19 của Nga

Kalashnikov hy vọng AK-19 sẽ tạo được dấu ấn trên thị trường súng trường tấn công toàn cầu ở các nước đang phát triển nhằm lấn át các nhà sản xuất súng phương Tây.

Theo thông báo, Công ty sản xuất súng Kalashnikov trực thuộc Tập đoàn Nhà nước Rostec của Nga sẽ giới thiệu loại súng trường tấn công AK-19 5,56 mm mới nhất của mình tại triển lãm vũ khí lớn nhất Trung Đông – IDEX 2021.

Kalashnikov cho biết, dòng súng trường tấn công mới nhất của họ đã thu hút được sự quan tâm lớn của các khách hàng ở Trung Đông, những nước vẫn sử dụng loại đạn tiêu chuẩn 5,56 × 45 mm.

“Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm và nhiều bụi, AK-19 sẽ phát huy được hiệu quả sử dụng mọi thời điểm, bay ngày hay ban đêm, hoạt động đáng tin cậy và nhận được quy trình bảo trì chu đáo,” thông báo của Kalashnikov cho hay.

Dmitry Tarasov, Tổng giám đốc của Kalashnikov nói rằng công ty hy vọng biến thể mới của họ sẽ đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu.

“AK-19 sử dụng loại đạn 5,56 × 45 mm đã được NATO chấp thuận và sử dụng rộng rãi trên thế giới. Vì vậy, dòng súng trường tấn công mới nhất của chúng tôi được thiết kế để hướng đến thị trường nước ngoài”.

“Giới thiệu AK-19 tại triển lãm vũ khí quốc tế lớn nhất IDEX 2021, chúng tôi chắc chắn sẽ nhận được sự quan tâm lớn từ phía các khách hàng nước ngoài”.

  Truyện Kiều

Hãy quên AK-47 đi, súng trường tấn công AK-19 của Nga mới là “đẳng cấp”! – Ảnh 1.
AK-19 là một biến thể mới của AK-12, đã có mặt trong Lực lượng vũ trang Nga từ năm 2019.

Là biến thể súng trường tấn công hạng nhẹ được thiết kế dựa trên mẫu AK-12, chính thức biên chế cho các lực lượng vũ trang Nga kể từ năm 2019, AK-19 có báng súng gọn nhẹ với công thái học được cải tiến, trang bị một ống ngắm phía sau mới và một bộ hãm thanh tiên tiến, chiều dài nòng 415 mm và trọng lượng 3.350 gram.

Súng trường tấn công AK-19 sử dụng báng gấp trọng lượng nhẹ, thước ngắm cơ khí kiểu mới và loa che lửa có thể gắn nòng giảm thanh. AK-19 có dáng dấp hiện đại giống với các mẫu súng trường tấn công hàng đầu của phương Tây.

Mẫu súng AK-19 mới sở hữu tính năng tương tự như AK-12 với tầm bắn 440 m và ba chế độ bắn, gồm bắn phát một, bắn loạt hai viên và bắn liên thanh.

AK là dòng súng trường tấn công phổ biến hàng đầu thế giới, với khoảng 200 triệu khẩu đang được sử dụng. AK-47, phiên bản đầu tiên do tổng công trình sư Mikhail Kalashnikov thiết kế, đã được Hồng quân Liên Xô sử dụng từ năm 1949-1974.

Cho tới nay, Nga vẫn chưa mấy thành công với các phiên bản AK hậu Liên Xô vì vậy với việc cho ra mắt mẫu AK-19 mới, Nga hy vọng chúng sẽ tiếp tục viết tiếp những trang sử hào hùng của dòng AK huyền thoại.

  6 cuốn 'thiên thư' thần bí

Kalashnikov hy vọng AK-19 sẽ tạo được dấu ấn trên thị trường súng trường tấn công toàn cầu ở các nước đang phát triển nhằm lấn át các nhà sản xuất súng phương Tây.

Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi nhà sản xuất súng của Nga quyết định chọn IDEX, triển lãm quốc phòng hàng đầu ở Trung Đông để quảng bá cho sản phẩm cải tiến mới nhất của mình ra thị trường toàn cầu.

Chè shan tuyết cổ

Dù giá bán cao ngất ngưởng, loại chè này vẫn được nhiều người tìm kiếm, gần Tết mặt hàng này còn “cháy”, khách muốn mua đều phải đặt trước.

Loại chè đặc sản này được lấy từ cây chè shan tuyết cổ, có tuổi đời khoảng vài trăm năm. Theo chị Việt Hà – một nhân viên của cơ sở sản xuất chè Shan tuyết cố, cây chè này một năm thường ra búp vào 4 vụ nhưng chỉ có 2 vụ chính nhiều trà vào đầu năm. Cơ sở sản xuất chè Shan tuyết của chị sẽ thu mua tất cả các tháng trong năm nhưng chỉ bán vào dịp cuối năm.

“Vì số lượng chè Shan tuyết chưa đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước nên tôi chỉ bán để làm quà tặng, biếu vào dịp Tết. Dù vậy, loại chè này chưa năm nào có đủ để bán cho khách, mọi người chủ yếu đều phải đặt trước và ký kết hợp đồng mới có hàng”, chị cho hay.

Người dân phải trèo lên cây cao để hái chè.

Người dân thu hái rồi bán lại cho các cơ sở sản xuất chè.

Riêng năm nay, cơ sở sản xuất chè của chị Hà đã chuẩn bị khoảng 20 tấn phục vụ khách hàng trong dịp Tết này. Và công ty của chị cũng nhận được rất nhiều đơn đặt hàng từ các công ty, doanh nghiệp, cá nhân đặt làm quà tặng Tết cho đối tác, gia đình, nhân viên…

  Lĩnh Nam Chích Quái

Theo đó, chè Shan tuyết cổ có nhiều phân khúc giá phục vụ khách hàng từ uống phổ thông hàng ngày, làm nguyên liệu pha chế đến sản phẩm cao cấp dành làm quà biếu tặng phục vụ cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Giá thấp nhất khoảng hơn 700.000 đồng/kg, cao nhất là trà sen giá khoảng 25 triệu đồng/kg. Và giá của các loại trà này đều giữ vững, không biến động nhiều qua nhiều năm.

Với mong muốn làm ra chè chất lượng nhất, cơ sở sản xuất chè của chị Hà thu mua tất cả lượng chè tươi của 2 vùng Tà Xùa (Sơn La) và Suối Giàng (Yên Bái). Vì hai vùng này sẽ làm ra chè có vị ngon nhất. Theo đó, người dân ở 2 vùng này đều được hướng dẫn cách thu hái để 100% sản lượng đạt tiêu chuẩn chế biến trà cao cấp. Ngoài ra, cơ sở sản xuất chè của chị còn hỗ trợ người dân mở rộng diện tích trồng chè Shan tuyết để có thể đáp ứng nhu cầu thị trường trong tương lai.

Chè Shan tuyết có cách làm riêng để giữ nguyên được hương vị đặc trưng của nó.

Trên thị trường, chè Shan tuyết có đủ 4 dòng của thế giới trà: Trà xanh, hồng trà, bạch trà và Trà ép bánh, với mỗi một dòng sẽ có quy trình chế biến khác nhau. Trong đó, trà ép thành bánh đòi hỏi kỹ thuật cao nhất và không phải ai cũng làm được.

  6 cuốn 'thiên thư' thần bí

Chị Hà cho biết trà shan tuyết cổ thụ tự nhiên có nội chất rất mạnh nên có thể pha được từ 10 đến 20 lần nước tùy theo dòng trà và dòng sản phẩm. Khi pha trà cần lưu ý không ngâm trà lâu quá 30 giây trong nước thì sẽ lấy được hương vị nội chất tinh tuý của trà.

Chè được ép thành bánh để bán cho khách hàng.

Dù giá chè cao, mặt hàng này vẫn không đủ cung cấp vào dịp Tết.

Theo tìm hiểu, đây là loại chè đặc sản Việt Nam có búp to màu trắng xám, dưới lá chè có phủ một lớp lông tơ mịn, trắng nên người dân gọi là chè tuyết. Chè Shan tuyết có mùi thơm dịu, nước vàng sánh màu mật ong. Chè được chế biến theo phương pháp thủ công của người dân tộc Tày, Mông, Dao.

Để hái chè, người dân phải trèo lên những cây chè cao, có độ tuổi lên đến vài trăm năm. Thông thường, cây chè này được canh tác hoàn toàn tự nhiên, không sử dụng bất cứhóa chất hay phân bón gì nên được xem là chè sạch. Và chúng có nhiều ở các tỉnh Hà Giang, Bắc Kạn, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái

Nhưng chè có vị ngon nhất ở Tà Xùa (Sơn La) hay Suối Giàng (Yên Bái). Nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng hàm lượng chất chống ung thư trong trà Shan Việt cao gấp 11 lần trà xanh tốt nhất của Nhật Bản.

  Sách Khải Huyền