21 C
hanoi
Thứ Năm, Tháng Hai 25, 2021

Kinh (zh. 經, sa. sūtra, pi. sutta), còn gọi là Khế kinh, dịch theo âm là Tu-đa-la, là tên gọi của các bài giảng của đức Phật, nằm trong tạng thứ hai của Tam tạng (sa. tripiṭaka). Tất cả các bộ kinh được gộp chung trong Kinh tạng (sa. sūtrapiṭaka).

Ngày nay, kinh được dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới, kể cả những ngôn ngữ Tây phương. Mới đầu kinh được ghi lại bằng tiếngPali hay Phạn, dần dần được dịch ra chữ Hán và Tây Tạng và các ngôn ngữ khác.

Kinh ghi lại những gì chính đức Phật giảng dạy. Khởi đầu bộ kinh ta hay nghe câu “Tôi nghe như vầy…” (Như thị ngã văn 如是我聞, sa. evaṃ śrute mayā). Câu này tương truyền xuất phát từ A-nan-đà, một đệ tử của Phật. A-nan-đà là người có trí nhớ phi thường, đã thuật lại những lời Phật nói trong buổi Kết tập lần thứ nhất ngay sau khi Phật diệt độ.

Sau câu này, thường thường kinh kể lại buổi nói chuyện đó gồm có người tham dự, nơi chốn, thời gian. Sau đó là những lời khai thị của Phật, có khi là những cuộc đối thoại sinh động. Thường thường lối hành văn của kinh giản đơn, dễ hiểu, có tính giáo khoa.

Kinh hay lấy những thí dụ và so sánh, ẩn dụ. Có khi kinh nhắc lại quá đầy đủ các yếu tố trong bài giảng làm người đọc thấy rất trùng điệp. Mỗi một kinh là một bài riêng biệt, xử lý một vấn đề riêng biệt.

Các kinh Nam-tông được viết bằng văn hệ Pāli, trong Bộ kinh (pi. nikāya). Các bộ này trong văn hệ chữ Phạn có tên là A-hàm (sa. āgama). Kinh Bắc-tông được viết bằng tiếng Phạn, nhưng ngày nay phần lớn cũng đã thất lạc, chỉ còn bản dịch bằng chữ Hán hoặc Tây Tạng. Các kinh Bắc-tông có thể được xem là phát khởi giữa thế kỉ thứ nhất trước CN và thứ sáu CN. Các kinh này cũng bắt đầu bằng câu “Tôi nghe như vầy…” và ghi rõ danh xưng, nơi chốn thời gian.

Trong “rừng” kinh sách Phật giáo người ta có thể phân biệt hai hướng sau đây:

7.Kinh dựa trên Tín tâm (sa. śraddhā), nói về thế giới quan Phật giáo, quan niệm Bồ Tát cũng như nhấn mạnh lên lòng thành tâm của người nghe. Hướng này có lẽ xuất xứ từ Bắc Ấn. Trong những bộ kinh này, ta thấy rất nhiều điều huyền bí, cách miêu tả trùng trùng điệp điệp.

8.Kinh nhắc lại các vị Phật và Bồ Tát thi triển nhiều thần thông, qua vô lượng thế giới, không gian và thời gian. Các vị Phật và Bồ Tát được biến thành các Báo thân (Ba thân) đầy quyền năng. Khuynh hướng này xuất phát từ Bắc-tông, vừa muốn đáp ứng tinh thần tín ngưỡng của Phật tử, vừa phù hợp với giáo pháp căn bản của mình là tính Không (sa. śūnyatā), cho rằng mọi biến hiện trong thế gian chẳng qua chỉ là huyễn giác. Qua đó thì các thần thông cũng như toàn bộ thế giới hiện tượng chỉ là Ảo ảnh.

9.Kinh có tính triết học, lý luận dựa trên quan điểm chính của Bắc-tông là tính Không. Xuất xứ các kinh này có lẽ từ miền Đông của Trung Ấn. Các loại kinh này được nhiều luận sư giảng giải khác nhau và vì vậy mà xuất phát nhiều trường phái khác nhau.

Các kinh độc lập quan trọng của Bắc-tông là: Diệu pháp liên hoa kinh (sa. saddharmapuṇḍarīka), Nhập Lăng-già kinh (sa.laṅkāvatāra), Phổ diệu kinh (hay Thần thông du hí, sa. lalitavistara), Chính định vương kinh (sa. samādhirāja), Đại thừa vô lượng thọ trang nghiêm (sa. sukhāvatī-vyūha), Hiền kiếp kinh (sa. bhadrakalpika), Phạm võng kinh (sa. brahmajāla), Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh (sa. buddhāvataṃsaka), Thắng Man kinh (sa. śrīmālādevī), A-di-đà kinh (sa. amitābha), Quán vô lượng thọ kinh (sa.amitāyurdhyāna), Duy-ma-cật sở thuyết (sa. vimalakīrti-nirdeśa), Thủ-lăng-nghiêm-tam-muội kinh (sa. śūraṅgama).

Kinh tạng Pali (Nguyên Thủy)

Kinh tạng Pali gồm năm bộ kinh: Dìgha Nikàya (Kinh Trường Bộ), Majjhima Nikàya (Kinh Trung Bộ), Samyutta Nikàya (Kinh Tương Ưng Bộ), Anguttara Nikàya (Kinh Tăng Chi Bộ), và Khuddaka Nikàya (Kinh Tiểu Bộ).

  • Kinh Trường Bộ
  • Kinh Trung Bộ
  • Kinh Tương Ưng Bộ
  • Kinh Tăng Chi Bộ
  • Kinh Tiểu Bộ
Thánh điển Phật giáo
Tam.jpg
Kinh

  • Bát-nhã kinh
    • Bát-nhã tâm kinh
    • Bát thiên tụng bát-nhã kinh
    • Kim Cương kinh
    • Tiểu phẩm bát-nhã kinh
    • Đại phẩm bát-nhã kinh
  • Đại Nhật kinh
  • Pháp Hoa kinh
  • Hoa Nghiêm kinh
  • Lăng-nghiêm kinh
  • A-di-đà kinh
  • Kim quang minh kinh
  • Tô tất đế yết la kinh
  • Thắng Man kinh
  • Thập địa kinh
  • Duy-ma-cật sở thuyết kinh
  • Giải thâm mật kinh
  • Nhập Lăng-già kinh
  • Niết bàn kinh
  • Bộ kinh & A-hàm kinh
    • Trường bộ
    • Trung bộ
    • Tăng chi bộ
    • Tiểu bộ
    • Tương ưng bộ
    • Từ kinh
    • Bản sinh kinh
    • Tứ niệm xứ kinh
    • Niết bàn kinh
  • Tịnh độ Tam Kinh
    • Phật thuyết vô lượng thọ kinh
    • Phật thuyết A Di Đà kinh
    • Quán vô lượng thọ kinh

Luận

  • A-tì-đạt-ma
  • Bảo tính luận
  • Bồ-đề đạo đăng luận
  • Câu-xá luận
  • Du-già sư địa luận
  • Duy thức nhị thập tụng
  • Đại thừa khởi tín luận
  • Nhập Bồ-đề hành luận
  • Nhiếp đại thừa luận
  • Tập Bồ Tát học luận
  • Nhiếp chân thật luận
  • Tập lượng luận
  • Thành duy thức luận
  • Trung quán luận
  • Thanh tịnh đạo luận

Kinh điển Phật giáo

Kinh điển Phật giáo có số lượng rất lớn. Mặc dù có thể không lên đến “84.000 pháp môn” (bài giảng) như truyền thống thường nói, nhưng có lẽ chúng cũng đủ để làm các Phật tử hoa mắt khi mới học Đạo. Kinh văn Phật giáo truyền miệng hoặc được viết trên giấy mực được chia theo nội dung làm ba loại là Kinh, LuậtLuận. Phật tử theo các tông phái khác nhau đặt các bộ kinh, luận này ở những vị trí khác nhau. Họ cho rằng các bộ kinh, luận có tầm quan trọng khác nhau đối với họ và giữ thái độ khác nhau đối với kinh điển: từ tôn kính một loại kinh văn nhất định cho đến bác bỏ, xem thường một vài kinh văn nào đó, cho là ngụy tạo. Thế nên, các bộ kinh, luận khó có thể được gọi là Thánh kinh (Sacred scripture) với nghĩa được hiểu như thánh kinh của Kitô giáo hoặc các tôn giáo khác.

Kinh văn Phật giáo có thể chia ra hai loại dựa trên nguồn gốc hình thành kinh như loại tiêu chuẩn (hoặc chủ yếu, canonical) và loạingoài tiêu chuẩn (hoặc thứ yếu, non-canonical). Thuộc về kinh văn tiêu chuẩn là các bài Kinh (經, sa. sūtra, pi. sutta), chép lại lời dạy của chính vị Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni – “Phật lịch sử” ở đây được hiểu một cách chính xác hoặc như một ẩn dụ. Thuộc loại ngoài tiêu chuẩn là các bài luận giải những bộ kinh hoặc luận, cũng như những văn bản trích dẫn kinh, lịch sử hình thành kinh, văn phạm,… của các Đại sư, Luận sư.

Tuy nhiên cũng nên hiểu là cách chia loại như thế có phần tùy tiện và một vài kinh văn có thể được xếp vào một trong hai loại nêu trên, hoặc có thể được xếp vào nhiều hơn một trong những loại được kể bên dưới.

Kinh điển loại tiêu chuẩn

Tam tạng Pháp sư Huyền Trang vác trên lưng những bộ kinh và luận tiếng Phạn

Tuy có rất nhiều kinh văn loại tiêu chuẩn có nguồn gốc từ chính đức Phật Thích-ca Mâu-ni, nhưng các trường phái Phật giáo lại thường không nhất trí với nhau về mặt thể loại tiêu chuẩn của từng kinh văn, và các lần duyệt văn bản của các Đại tạng kinh cho thấy rất nhiều khác biệt về số lượng và thể loại kinh văn[cần dẫn nguồn]. Nhìn chung, kinh văn được chia thành ba loại theo nội dung: Kinh (những bài thuyết pháp, sa. sūtra, pi. sutta), Luật (sa., pi. vinaya, viết về giới luật của Tăng-già) và Luận hoặc A-tì-đạt-ma (sa. abhidharma, pi. abhidhamma, mang tính chất bàn luận, giải thích, phân tích các bài kinh, nói về các pháp). Ba loại kinh này được gọi chung là Tam tạng (sa. tripiṭaka, pi. tipiṭaka). Riêng Kinh tạng (sa. sūtrapiṭaka) và Luật tạng (sa. vinayapiṭaka) chứa đựng nhiều kinh văn khác nhau, gồm cả các bài giảng về các pháp, các bàn luận, giải thích về các giáo lý, kinh văn nói về vũ trụ, sự tiến hóa của vũ trụ, nói về tiền thân của Phật-đà (Bản sinh kinh), và các bảng liệt kê các pháp khác nhau.

Các kinh văn loại tiêu chuẩn của trường phái Thượng tọa bộ (pi. theravāda) và các trường phái Ni-ca-da (pi. nikāya) khác được tin tưởng là chép lại một cách chân xác chính lời dạy của Phật Thích-ca. Đại tạng kinh của Thượng tọa bộ còn được gọi là Đại tạng kinh Pali vì tạng kinh này được viết bằng tiếng Pali bao gồm khoảng 4 triệu chữ.

Các kinh văn loại tiêu chuẩn của các trường phái theo Đại thừa ra đời sau này cũng được tin tưởng là chép lại lời dạy của đức Phật, nhưng được lưu truyền một cách bí mật qua những linh vật như rồng (long 龍, sa. nāga) hoặc chép lời dạy trực tiếp của những vị Phật hoặc Bồ Tát khác. Khoảng 600 bộ kinh Đại thừa được truyền lại bằng tiếng Phạn hoặc trong những bản dịch tiếng Hán hoặc tiếng Tây Tạng. Đại tạng kinh Đại thừa đầy đủ nhất hiện nay có lẽ là phiên bản bằng tiếng Hán, mặc dù đây chỉ là bản dịch từ tiếng Phạn. Đại tạng này chứa đựng kinh văn của nhiều bộ phái truyền thống xưa (có 18 bộ phái).

Các bộ kinh Đại thừa sớm nhất được viết bằng tiếng Trung kì Ấn Nhã-lợi-an (en. Middle Indo-Aryan), sau được Phạn hóa vào thời vương triều Cấp-đa (sa. gupta), khi tiếng Phạn được xem là ngôn ngữ chính thức tại triều đình[cần dẫn nguồn]. Phần lớn kinh văn Đại thừa được viết với những nét văn hoa bắt chước tiếng Phạn cổ điển bằng Phật giáo tạp chủng phạn ngữ(Buddhist Hybrid Sanskrit, BHS) đây là một dạng phương ngữ Trung kì Ấn Nhã-lợi-an. Một số kinh văn sau này, đặc biệt là những kinh văn có gốc từ đại học Phật giáo Na-lan-đà (sa. nālandā), được viết một cách văn hoa bằng Phạn ngữ thuần túy.

Với các trường phái Kim Cương thừa của Tây Tạng thì Đại tạng kinh Tây Tạng ngoài ba loại kinh văn Kinh, Luật và Luận còn chứa đựng các bộ Đát-đặc-la (sa. tantra) ghi những phép tu luyện bí mật và các bài chú giải về chúng.

Cách phân loại kinh văn theo ba cỗ xe (Tam thừa 三乘, sa. triyāna gồm Đại thừa, Tiểu thừa, và Kim cương thừa) truyền thống có thể làm lu mờ quá trình hình thành kinh văn. Ví dụ như có các kinh văn được gọi là “Tiền đại thừa” (proto-mahāyāna), ví như bài Vô Năng Thắng Quân kinh (sa. ajitasenasūtra), nhưng chúng hoàn toàn thiếu những yếu tố chủ yếu của kinh văn Đại thừa. Ngược lại, một số bài kinh văn hệ Pali của Thượng tọa bộ lại chứa đựng chính những tư tưởng sau này được xem là gắn liền với Đại thừa. Một số kinh văn Đại thừa khác – được xem là hiển giáo – lại thể hiện rõ ràng bản chất mật giáo Đát-đặc-la, đặc biệt là những bài kinh ngắn thuộc hệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa. Nhưng cũng có kinh văn thuộc loại Đát-đặc-la lại xuất hiện rất sớm là Đại Tì-lô-giá-na thành Phật thần biến gia trì kinh (zh. 大毗盧遮那成佛神變加持經, sa. mahāvairocanābhisambodhitantra), thường được gọi tắt là Đại Nhật kinh (sa.mahāvairocanasūtra).

Một số bài kinh Phật giáo qua quá trình mở rộng dần dần gần như trở thành một bộ kinh riêng, được gọi là kinh “phương đẳng” (方等) hoặc “phương quảng” (方廣, sa. vaipulya, pi. vipula) là những bộ kinh “rộng lớn bao quát”. Như bộ Kim Quang Minh Tối Thắng Vương kinh (zh. 金光明最勝王經, sa. suvarṇaprabhāsottamasūtra) mà nội dung xoay quanh chương trung tâm là chương thứ ba của bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh (zh. 大方廣佛華嚴經, sa. buddhāvataṃsaka-mahāvaipulyasūtra) – cũng được gọi tắt là kinh Hoa Nghiêm – được các nhà nghiên cứu cho là một trường hợp điển hình về một bộ kinh đã đào sâu và chắt lọc được nhiều đạo lý bao quát từ các bộ kinh khác nhau và nhiều phần trong bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh này vẫn được xem như một kinh văn độc lập, nhất là phần Hoa Nghiêm (sa. gaṇḍavyūha). Kinh Hoa Nghiêm và kinh Diệu Pháp Liên Hoa (zh. 妙法蓮華經, sa. saddharmapuṇḍarīka-sūtra) nhắc đến khái niệmNhất thừa (zh. 一乘, sa. ekayāna), theo hai bộ kinh này thì nội dung của nó là sự tổng hợp và thống nhất tất cả những giáo lý có trước đó.

Mật tông tại Trung Hoa – còn được biết với tên Chân ngôn tông tại Nhật- thì phát triển một hệ thống kinh văn trên cơ sở cho rằng, các bộ kinh đầu tiên là lời của đức Phật Cồ-đàm, được thuyết giảng dưới dạng Hóa thân (zh. 化身, sa. nirmāṇakāya); bộ kinh thuộc hệ Nhất thừa được Phật thuyết dưới dạng Báo thân, và kinh văn của Mật giáo được truyền dưới dạng Pháp thân (xem thêm Tam thân).

  Mã Tiền Khóa

Kinh điển loại ngoài tiêu chuẩn

Trong thời kì đầu của Phật giáo, kinh văn ngoài tiêu chuẩn, hoặc bán tiêu chuẩn, đã đóng một vai trò quan trọng. Nhiều bộ luận quan trọng tồn tại trong Đại tạng kinh tiếng Pali, tiếng Tây Tạng, Trung Hoa và những ngôn ngữ Đông Á khác.

Kinh điển ngoài tiêu chuẩn tiêu biểu có thể kể đến là bộ Thanh tịnh đạo (pi. visuddhimagga), “con đường dẫn đến thanh tịnh” của đại sư Phật Âm (zh. 佛音, pi.buddhaghosa), một tác phẩm gần như bao gồm tất cả giáo lý của Thượng tọa bộ (pi. theravāda) với rất nhiều trích dẫn từ Đại tạng kinh Pali. Na-tiên tỉ-khâu kinh(zh. 那先比丘經, pi. milindapañhā), còn được gọi là Di-lan-đà vấn đạo kinh, là một kinh văn rất nổi tiếng, đúc kết giáo lý Thượng tọa bộ trong những câu hỏi đáp qua lại giữa Tỉ-khâu Na-tiên (zh. 那先, pi. nāgasena) với một ông vua người Hi Lạp tên là Di-lan-đà (zh. 彌蘭陀, pi. milinda, en. menander), cũng là một kinh văn ngoài tiêu chuẩn tiêu biểu khác.

Tác phẩm Đại thừa khởi tín luận (được những người hâm mộ xem là tác phẩm của Mã Minh) đã ảnh hưởng rất lớn đến giáo lý Đại thừa tại Đông Á, đã được chú giải rất nhiều qua các bài luận của nhiều vị đại sư Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Bộ Nhập Bồ-đề hành luận của luận sư Tịch Thiên (zh. 寂天, sa. śāntideva) đã gây ảnh hưởng đến Đại thừa lẫn Kim cương thừa. Một tác phẩm khác của sư là Tập Bồ Tát học luận (sa. śikṣāsamuccaya) lưu lại nhiều trích dẫn từ kinh sách Phạn ngữ ngày nay chưa tìm ra. Pháp bảo đàn kinh (zh. 法寶壇經) có thể được xem là một tác phẩm bán tiêu chuẩn, và nó cũng là một trong những văn bản được gọi là “kinh” mặc dù không phải do Phật thuyết. Tuy nhiên, cách phân chia “kinh” hay không cũng chỉ là giả định: Trong nguyên văn Hán, bài viết về Lục tổ Huệ Năng được gọi là “kinh” (經), nhưng cách gọi này cũng được người Hoa dùng cho các tác phẩm cổ điển khác như Đạo Đức kinh (zh. 道德經) hoặc Thi kinh (zh. 詩經). Trong kinh Pháp bảo đàn, Huệ Năng trình bày cơ duyên ngộ đạo và nhận y bát cũng như giáo lý thiền. Truyền thống Thiền tông đặc biệt lập cơ sở trên những tác phẩm ngoài tiêu chuẩn ghi lại cuộc đời, cơ duyên hoằng hóa và pháp ngữ của các vị Tổ sư, được gọi là Ngữ lục. Một trong những tác phẩm quan trọng nhất của Thiền gia là Bích nham lục (zh. 碧巖錄)

Phật giáo Tây Tạng lưu lại một loại kinh văn rất đặc thù, được gọi là Tàng lục (zh. 藏錄, bo. གཏེར་མ་). Đây là những văn bản được viết ra, nhưng lại được chôn giấu để người đời sau tìm thấy ở một thời điểm nhất định. Người tìm được Tàng lục được gọi theo tiếng Tây Tạng là Tertön (bo. གཏེར་སྟོན་). Một vài Tàng lục được cất giấu trong các hang động hoặc những chỗ ẩn kín tương tự, nhưng cũng có những bộ được xem là Tâm tàng lục, “cất trong tâm”, sẽ được phát hiện bởi Tertön trong tâm thức của chính mình. Trường phái Ninh-mã có lưu giữ một pho Tàng lục to lớn. Nhiều Tàng lục được xem là tác phẩm của Đại sư Liên Hoa Sinh, người giữ vị trí rất lớn trong phái Ninh-mã. Bộ Tàng lục nổi danh nhất có lẽ là bộ Tử thư (bo. བར་དོ་ཐོས་གྲོལ་) Các loại văn bản ngoài tiêu chuẩn khác giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực lịch sử Phật giáo tại Tích Lan là Đảo sử (zh. 島史, pi. dīpavaṃsa) và Đại sử (zh. 大史, pi. mahāvaṃsa)

Đại tạng kinh của Thượng tọa bộ và những trường phái Nam Tông khác

Đại tạng kinh tiếng Pali, phiên bản Thái Lan

Có nhiều tranh luận về cách gọi những trường phải cổ và bảo thủ của Phật giáo cũng như các kinh văn hệ thuộc. Thuật ngữ được dùng nhiều nhất có lẽ là “Tiểu thừa” (zh. 小乘, pi., sa. hīnayāna) nhưng lại bị bài bác vì nhiều lý do. Nhiều người đề nghị dùng từ khác như Bộ phái Phật giáo (hoặc Ni-ca-da) để chỉ ngay đến những kinh văn những trường phái này xem là tiêu chuẩn. Chúng được gọi là Bộ kinh (zh. 部經, pi. nikāya) hoặc A-hàm (zh. 阿含, pi., sa. āgama).

Mặc dù có nhiều kinh văn của các Bộ phái được viết bằng tiếng Phạn, nhưng chỉ còn một Đại tạng kinh duy nhất được lưu lại toàn vẹn, đó là Đại tạng kinh tiếng Pali của Thượng tọa bộ. Kinh văn Pali được phân chia thành ba thời kì. Thời kì đầu, cũng được gọi là thời kì cổ điển, bắt đầu với ba tạng kinh và chấm dứt với Na-tiên tỉ-khâu kinh khoảng thế kỉ thứ nhất trước CN. Sau một thời kì mai một (thời kỳ 2 bắt đầu từ thế kỷ 1 TCN đến thế kỷ 4 SCN), tiếng Pali lại được phục hưng ở thế kỉ thứ 4 với cuộc đời và sự nghiệp của đại sư Phật Âm, và kéo dài đến thế kỉ 12. Thời kì thứ ba này (từ thế kỷ 4 trở đi) trùng hợp với những biến đổi chính trị ở Miến Điện.

Luật tạng

Luật tạng đề cập đến những vấn đề giới luật trong Tăng-già. Tuy nhiên, từ Luật (dịch từ tiếng Phạn vinaya) cũng được dùng với từ Pháp (pi. dhamma) như một cặp đi đôi, với Pháp là giáo lý và Luật mang nghĩa thực hành, ứng dụng. Thực tế, Luật tạng chứa đựng hàng loạt thể loại kinh văn khác nhau. Dĩ nhiên có những kinh văn chuyên chú về quy luật trong tăng-già, chúng được lập, được phát triển và ứng dụng như thế nào. Nhưng Luật tạng cũng bao gồm những bài giảng về giáo lý, nghi lễ, nghi thức thực hiện các buổi lễ, tiểu sử và các bài nói về tiền kiếp (xem Bản sinh kinh).

Một điểm khá nghịch lý là Ba-la-đề-mộc-xoa (zh. 波羅提木叉, sa. prātimokṣa), một văn bản tương quan mật thiết với giới luật, được dùng nhiều nhất lại không được xếp vào kinh văn tiêu chuẩn.

Có bảy Luật tạng được lưu lại:

  • Luật tạng của Thượng tọa bộ (pi. theravādin)
  • Luật tạng của Đại chúng bộ (sa., pi. mahāsāṃghika), Thuyết nhất thiết hữu bộ (zh. 說一切有部, sa. sarvāstivādin) và Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ (zh. 根本說一切有部, sa. mūlasarvāstivādin), được viết bằng tiếng Phạn.
  • Luật tạng của Hóa địa bộ (zh. 化地部, sa. mahīśāsaka), Ca-diếp bộ (zh. 迦葉部, sa. kāśyapīya) và Pháp tạng bộ (zh. 法藏部, sa. dharmaguptaka), nguyên được viết bằng tiếng Phạn, nhưng hiện chỉ còn trong Hán tạng.

Tác phẩm Đại sự (zh. 大事, sa. mahāvastu) được biên soạn bởi Thuyết xuất thế bộ (zh. 說出世部, sa. lokottaravādin), – một nhánh của Đại chúng bộ – vốn là tiền văn của một luật tạng mà sau này đã bị tách rời. Thế nên, thay vì nói về luật, Đại sự lại chú tâm đến tiểu sử của Phật, ghi thật rõ những tiến trình của ngài qua Thập địa. Nội dung của Đại sự đã được thâu nhiếp và đưa vào bộ Thập địa kinh (zh. 十地經, sa. daśabhūmika-sūtra) của Đại thừa.

Kinh tạng

Kinh phần lớn là các bài giảng của đức Phật hoặc của một trong những Đại đệ tử của Ngài. Tất cả những gì được ghi lại, ngay cả những gì không phải Phật đích thân thuyết, được xem là Phật ngôn, “lời Phật dạy” (sa., pi. buddhavacana). Ban đầu, các bài giảng của Phật được sắp xếp theo dạng chúng được truyền lại cho đời sau chia ra làm 12 thể loại:

  1. Kinh (經, sa. sūtra) hoặc Khế kinh (zh. 契經), cũng được gọi theo âm là Tu-đa-la (修多羅), chỉ những bài kinh chính Phật thuyết;
  2. Trùng tụng (重頌, sa. geya) hoặc Ứng tụng (zh. 應頌), gọi theo âm là Kì-dạ (祇夜), một dạng kệ tụng mà trong đó nhiều câu được lặp đi lặp lại;
  3. Thụ ký (zh. 受記, sa. vyākaraṇa), âm là Hoa-già-la-na (zh. 華遮羅那), chỉ những lời do Phật thụ ký, chứng nhận cho các Bồ Tát, đệ tử mai sau thành Phật, và những việc sẽ xảy ra…;
  4. Kệ-đà (偈陀, sa. gāthā), cũng được gọi là Ký chú (zh. 記註) hay Phúng tụng (zh. 諷頌), những bài thi ca không có văn xuôi đi trước (trường hàng), xem Kệ;
  5. (Vô vấn) Tự thuyết (zh. [無問]自說, sa. udāna) hoặc Tán thán kinh (zh. 讚歎經), âm là Ưu-đà-na (zh. 憂陀那), chỉ những bài kinh mà Phật tự thuyết, không phải đợi người thỉnh cầu mới trình bày;
  6. Nhân duyên (zh. 因緣, sa. nidāna) hay Quảng thuyết (廣說), gọi theo âm là Ni-đà-na (尼陀那), chỉ những bài kinh nói về nhân duyên khi Phật thuyết pháp và người nghe pháp…;
  7. Thí dụ (譬喻, sa. avadāna) hoặc Diễn thuyết giải ngộ kinh (zh. 演說解悟經), âm là A-ba-đà-na (zh. 阿波陀那), chỉ những loại kinh mà trong đó Phật sử dụng những thí dụ, ẩn dụ để dùng việc đời mà gợi mở việc đạo làm người nghe dễ hiểu hơn;
  8. Như thị pháp hiện (如是法現, sa. itivṛttaka) hoặc Bản sự kinh (本事經), âm là Y-đế-mục-đa-già (醫帝目多伽), chỉ những bài kinh nói về sự tu nhân chứng quả của các vị đệ tử trong quá khứ, vị lai;
  9. Bản sinh kinh (zh. 本生經, sa. jātaka), gọi theo âm là Xà-đà-già (zh. 闍陀伽);
  10. Phương quảng (zh. 方廣), Phương đẳng (方 等, sa. vaipulya) hoặc Quảng đại kinh (zh. 廣大經), gọi theo âm là Tì-phật-lược (毗佛略);
  11. Hi pháp (zh. 希法, sa. adbhutadharma) hoặc Vị tằng hữu (未曾有), âm là A-phù-đà đạt-ma (zh. 阿浮陀達磨), kinh nói về thần lực chư Phật thị hiện, cảnh giới kì diệu, hiếm có mà người phàm không hiểu nổi;
  12. Luận nghị (zh. 論議, sa. upadeśa), cũng được gọi là Cận sự thỉnh vấn kinh (zh. 近事請問經) hoặc theo âm là Ưu-ba-đề-xá (優波提舍), chỉ những bài kinh có tính cách vấn đáp với lý luận cho rõ ngay thẳng, xiên vẹo.

Cách sắp xếp bên trên được các trường phái ngoài Đại thừa chấp nhận, tuy nhiên, Thượng tọa bộ loại bỏ ba phần 6., 7. và 12. ra. Cách phân loại trên cũng được tìm thấy trong Đại tạng của các trường phái Đại thừa.

Tuy nhiên, Thượng tọa bộ đã tìm cách sắp xếp Đại tạng kinh theo cách khác, và kinh của Thượng tọa bộ được xếp lại như sau:

Trường bộ kinh & Trường A-hàm kinh

Bao gồm các bài kinh dài nhất trong các loại kinh văn hệ Pali. Trường bộ (zh. 長部, pi. dīghanikāya) văn hệ Pali có 34 bài kinh mà trong đó, hai bài nổi danh nhất làĐại Bát-niết-bàn kinh (zh. 大般涅槃經, pi. mahāparinibbānasuttanta) và Phạm võng kinh (zh. 梵網經, pi. brahmajālasutta). Trường A-hàm (zh. 長阿含, sa.dīrghāgama) của Pháp tạng bộ chỉ còn trong bản dịch Hán văn, bao gồm 30 bài kinh.

Trung bộ kinh & Trung A-hàm kinh

Trung bộ (zh. 中部, pi. majjhimanikāya) văn hệ Pali có 152 bài kinh, Trung A-hàm (zh. 中阿含, sa. madhyamāgama) của Thuyết nhất thiết hữu bộ có 222 bài, được lưu lại trong Đại tạng kinh Hán văn.

Tương ưng bộ

Bộ kinh này bao gồm nhiều kinh văn ngắn gọn được gom lại theo chủ đề, nhóm và người nói chuyện. Tương ưng bộ (zh. 相應部, pi. saṃyuttanikāya) văn hệ Pali có khoảng 2800 bài kinh, Trường A-hàm (zh. 長阿含, sa. dīrghāgama) của Thuyết nhất thiết hữu bộ chỉ có 1300 bài, được lưu lại trong Đại tạng kinh Hán văn.

Tăng chi bộ kinh & Tăng nhất a-hàm kinh

Bao gồm những bài kinh có cùng Pháp số, Tăng chi bộ (zh. 增支部, pi. aṅguttaranikāya) văn hệ Pali có hơn 2.300 bài kinh. Đại tạng kinh chữ Hán lưu lại bộ Tăng nhất a-hàm (zh. 增一阿含, sa. ekottarāgama), được xem là thuộc bộ Đại tạng kinh của Đại chúng bộ.

Tiểu bộ kinh & Tạp kinh

Không phải tất cả các trường phái đều có thể loại này, nhưng Tiểu bộ (zh. 小部, pi. khuddakanikāya) văn hệ Pali có nhiều bộ kinh nhỏ rất nổi danh và được ưa chuộng, bao gồm:

  • Pháp Cú kinh (zh. 法句; pi. dhammapada): gồm 426 câu kệ trong 26 chương về các nguyên lý căn bản đạo Phật, được lưu truyền rộng trong các nước theo Thượng tọa bộ;
  • Tự thuyết (zh. 自說, pi. udāna): gồm 80 bài giảng của đức Phật. Điểm đặc biệt ở đây là những lời của đức Phật tự nhiên thốt ra dạy, không phải do được người khác hỏi mà trả lời. Thế nên cũng gọi là Vô vấn tự thuyết.
  • Tập bộ kinh (zh. 集部經, pi. sutta-nipāta): một trong những kinh điển cổ nhất, đặc biệt có giá trị văn chương cao;
  • Trưởng lão tăng kệ (zh. 長老僧偈, pi. thera-gāthā): ghi lại 107 bài kệ của các vị Thượng tọa (pi. thera);
  • Trưởng lão ni kệ (zh. 長老尼偈, pi. therī-gāthā): gồm 73 bài kệ của các vị ni trưởng lão (pi. therī);
  • Bản sinh kinh (zh. 本生經, pi. jātaka), ghi chép các mẩu truyện về những kiếp trước của Phật.
  Pháp Luân Đại Pháp

Nhiều bộ kinh bên trên còn tồn tại các bản gốc dạng nguyên ngữ cũng như các bản dịch. Ví dụ như kinh Pháp cú còn tồn tại dưới dạng Pali, ba bản dịch Hán văn, một bản Tạng văn và một bản tiếng Khotan.

A-tì-đạt-ma

A-tì-đạt-ma có nghĩa là Thắng pháp hoặc là Vô tỉ pháp (zh. 無比法), vì nó vượt (abhi) trên các pháp (sa. dharma), giải thích trí huệ. A-tì-đạt-ma có liên quan đến sự phân tích các hiện tượng và có lẽ xuất phát từ những bảng liệt kê số pháp, ví như 37 Bồ-đề phần. Mặc dù được xếp vào kinh văn tiêu chuẩn, được xem như là lời của đức Phật nhưng các nhà Phật học hiện đại cho rằng, kinh A-tì-đạt-ma được phát triển rất lâu sau khi đức Phật Thích ca nhập diệt, và phần lớn của tạng kinh A-tì-đạt-ma là kết quả của 200 năm sau do công của A-dục vương (thế kỉ 1) kết tập.

A-tì-đạt-ma của Thượng tọa bộ được lưu lại bằng tiếng Pali. A-tì-đạt-ma của Thuyết nhất thiết hữu bộ được viết bằng tiếng Phạn, được lưu truyền trong hai Đại tạng kinh tiếng Hán và tiếng Tạng.

A-tì-đạt-ma phần lớn phân tích, xử lý các hiện tượng và mối quan hệ giữa chúng.

Không phải trường phái Phật giáo nào cũng xem kinh A-tì-đạt-ma là kinh văn tiêu chuẩn. Kinh lượng bộ (zh. 經量部, sa. sautrāntika) cho rằng, Đại tạng kinh chỉ có Kinh và Luật tạng. Việc chối bỏ các pháp thật sự tồn tại – quan điểm chính của A-tì-đạt-ma – của một số trường phái, được xem là một nhân tố quan trọng của sự hình thành trường phái Đại thừa sau này.

Kinh điển ngoài tiêu chuẩn

Kinh văn ngoài tiêu chuẩn quan trọng đầu tiên có lẽ là Na-tiên tỉ-khâu kinh, nói về một cuộc đàm thoại giữa một ông vua mộ đạo và một vị Tỉ-khâu trí huệ sắc bén. Bộ này chứa đựng một loạt giáo lý chủ yếu như vô ngã, duyên khởi, v.v. Các học giả sau này xem tác phẩm này là của Thuyết nhất thiết hữu bộ, một trường phái Tiểu thừa khác mặc dù nó được lưu lại Đại tạng của Thượng tọa bộ.

Kinh điển viết bằng tiếng Pali có rất nhiều bản chú giải vẫn chưa được phiên dịch. Chúng được xem là có nguồn từ đầu bút của vị Đại luận sư Phật Âm. Cũng có rất nhiều bản giải thích cho những bản chú giải (bản chú giải các bản chú giải).

Đại luận sư Phật Âm cũng là tác giả của bộ Thanh tịnh đạo luận, “con đường dẫn đến thanh tịnh” được xem là bộ luận trình bày tất cả giáo lý Thượng tọa bộ một cách tổng quát.

Kinh điển Đại thừa

Sau đây là một số kinh điển Đại thừa tiêu biểu:

Bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh

Một trang của Kim cương bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh bản Hán văn

Bộ này nói về Bát-nhã, Bát-nhã-ba-la-mật-đa (sa. prajñāpāramitā). Trong hệ thống này, Bát-nhã được xem là khả năng hiểu được “sự thật như nó vẫn là”, không chứa bất cứ một luận cứ triết học nào cả, chỉ nhằm thẳng bản chất của sự có, đặc biệt chỉ bằng cách dùng phương pháp nói ngược. Cơ sở quan trọng ở đây là sự vật không có hai mặt, mà trên nó, tất cả những phương pháp nhị nguyên để nhìn vào sự vật đều bị bác bỏ: Các pháp – các hiện tượng – không tồn tại mà cũng không không tồn tại, nhưng lại mang dấu ấn của tính Không, với sự vắng mặt lâu dài của một “bản chất không biết”. Nhất tự bát-nhã kinhminh họa quan điểm Bát-nhã-ba-la-mật-đa bằng cách dùng tiếp đầu âm अ a tiếng Phạn. Chữ अ khi gắn vào đầu một từ thì sẽ phủ định nó, cho nó một nghĩa ngược lại.

Nhiều bộ kinh Bát-nhã được biết với tên là độ dài hoặc số dòng kệ tụng chúng chứa đựng. Edward Conze, người đã dịch tất cả những bộ kinh Bát-nhã còn được lưu lại bằng Phạn ngữ sang tiếng Anh, đã nhận ra bốn thời kì phát triển của hệ kinh này:

  1. 100 TCN-100: Bảo đức tích tụ bát-nhã (sa. ratnaguṇasaṃcayagāthā) và Bát thiên tụng bát-nhã (sa. aṣṭasāhasrikā).
  2. 100-300: Thời kì phát triển với Bát nhã 18.000, 25.000, và 100.000 dòng được biên tập. Kim cương bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh (sa.vajracchedikāprajñāpāramitā-sūtra) có thể được viết trong thời gian này.
  3. 300-500: Thời kì lắng đọng lại. Bát-nhã tâm kinh và Nhất tự bát-nhã được biên tập.
  4. 500-1000: Văn bản thời này bắt đầu mang dấu tích của Mật giáo, chịu ảnh hưởng của Đát-đặc-la.

Kinh điển hệ Bát-nhã đã ảnh hưởng lớn đến tất cả các trường phái Phật giáo Đại thừa.

Diệu Pháp Liên Hoa kinh

Diệu Pháp Liên Hoa kinh (zh. 妙法蓮華經, sa. saddharmapuṇḍarīka-sūtra) cũng được gọi tắt là kinh Pháp Hoa, có lẽ được biên tập vào thời kì 100 TCN đến 100 CN. Trong kinh này, đức Phật đã chỉ rõ có nhiều cách để giác ngộ, nhưng chúng chỉ là phương tiện nhất thời và thực chất chúng chỉ là một. Các phương tiện khác nhau như Thanh Văn thừa, Độc Giác thừa, hay Bồ Tát thừa thật ra chỉ khác nhau vì nhu cầu phù hợp với căn cơ của hành giả. Phật chỉ tùy cơ duyên, sử dụng cácPhương tiện (sa. upāya) mà nói Tam thừa nhưng thực chất chỉ có Phật thừa (sa. buddhayāna) – để dẫn đến Giác ngộ, bao trùm cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa.

Một điểm đáng lưu ý ở đây là sự (tái) xuất hiện của Phật Đa Bảo (zh. 多寳, sa. prabhūtaratna) – vốn đã nhập diệt nhiều kiếp trước – vì sự việc này gợi ý là chúng sinh vẫn có thể cầu Phật sau khi Phật nhập Niết-bàn, và như vậy Phật sống vô lượng kiếp vì đã tích tụ vô lượng vô số công đức trong các tiền kiếp. Quan điểm này, không nhất thiết phải bắt nguồn từ kinh Pháp Hoa, đã dẫn đến khái niệm Tam thân của một vị Phật. Trong thời gian sau đó, kinh này quan hệ mật thiết với tông Thiên Thai và tông Nhật Liên tại Nhật Bản.

Tịnh độ kinh

Có ba bộ kinh chính được xếp vào loại này, đó là: Vô Lượng Thọ kinh (zh. 無量壽經, sa. sukhāvatīvyūha-sūtra), Quán Vô Lượng Thọ kinh (zh. 觀無量壽經, sa.amitāyurdhyānasūtra) và A-di-đà kinh (zh. 阿彌陀經, sa. amitābhasūtra, cũng được gọi là Tiểu Vô Lượng Thọ kinh 小無量壽經). Ba bộ này miêu tả nguồn gốc và bản chất của Tây phương Tịnh độ, nơi ở của Phật A-di-đà, liệt kê 48 lời nguyện của Pháp Tạng khi còn là một vị Bồ Tát. Ngài phát nguyện dựng nên một Tịnh độ, nơi chúng sinh với tâm thức thanh tịnh có thể thác sinh, sửa mình theo Phật pháp mà không gặp chướng ngại. Chúng sinh chỉ cần niệm tên, ngợi ca công đức của Phật A-di-đà là có thể tái sinh vào cõi Cực Lạc. Ba bộ kinh này (Tịnh độ tam bộ kinh 淨土三部經) trở thành cơ sở của Tịnh độ tông mà niềm tin đặt hết vào nơi tha lực trong quá trình tu tập.

Duy-ma-cật sở thuyết kinh

Duy-ma-cật sở thuyết kinh là một bộ kinh độc lập, được biên tập vào khoảng đầu thế kỉ thứ 2. Bồ Tát Duy-ma-cật xuất hiện dưới dạng cư sĩ để thuyết pháp, nhấn mạnh đến việc tu tập của hàng cư sĩ. Về mặt giáo lý thì kinh này giống kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa. Một chủ đề lớn khác trong kinh này là các Tịnh độ của chư Phật (Phật độ 佛土, sa. buddhakṣetra), đã ảnh hưởng lớn đến Tịnh độ tông sau này. Kinh này rất phổ biến tại các nước theo Đại thừa Phật giáo tại Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, và Việt Nam, có lẽ vì giáo lý trong kinh thích hợp với Nho giáo.

Tam-ma-địa kinh

Kinh văn loại này này được xem là những bộ kinh Đại thừa cổ nhất. Chúng nhấn mạnh việc thành tựu các cấp Tam-ma-địa (zh. 三摩地, sa. samādhi), “định”, trong lúc ngồi thiền, và như thế gợi thấy là thiền định đã giữ một vị trí quan trọng trong Đại thừa ban sơ. Thuộc loại kinh này là Bát-chu-tam-muội kinh (zh. 般舟三昧經, sa.pratyutpannabuddhasammukhāvasthita-samādhi-sūtra) và Thủ-lăng-nghiêm-tam-muội kinh (zh. 首楞嚴三昧經, sa. śūraṃgamasamādhisūtra).

Sám hối kinh

Tam uẩn kinh (sa. triskandhasūtra) và Kim quang minh tối thắng vương kinh (gọi tắt là Kim Quang Minh kinh) đặt nặng đến việc tự kể về mình, sám hối tội lỗi. Đặc biệt là bộ kinh Kim Quang Minh được vương triều Nhật Bản thời ấy chú trọng. Một chương của trang này được triều đình dùng để chính thống hóa hình thức cai trị và dùng làm cơ sở cho một đất nước phồn thịnh lý tưởng.

Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh

Là một bài kinh tổng hợp nhiều thành phần, cụ thể là Thập địa kinh (zh. 十地經, sa. daśabhūmika-sūtra) và Hoa Nghiêm kinh. Có lẽ bộ kinh có được dạng này vào khoảng thế kỉ thứ 4, mặc dù các thành phần của nó, như những phần được nói bên trên, được xem là xuất hiện ở thế kỉ thứ 1 hoặc thứ 2. Kinh Hoa Nghiêm được xem là nguồn của sự tôn xưng đức Phật Đại Nhật, sau này, kinh là cơ sở phát triển của bộ Đại Tì-lô-giá-na thành Phật thần biến gia trì kinh (zh. 大毘盧遮那成佛神變加持經, sa. mahāvairocanābhisambodhitantra), một trong hai bộ kinh trung tâm của Chân ngôn tông, cũng được đưa vào Đại tạng kinh Tây Tạng trong nhóm Hành đát-đặc-la (sa. caryā-tantra). Kinh Hoa Nghiêm sau trở thành bộ kinh chính của tông mang cùng tên, tông Hoa Nghiêm tại Trung Quốc với giáo lý xoay quanh sự xuyên suốt của vạn vật.

Kinh thời chuyển pháp luân thứ ba hay kinh hệ Duy thức

Trang đầu của bộ Nhập Lăng-già kinh, bản Hán văn

Đây là những bộ kinh nói về thuyết “duy tâm”, “duy thức” có liên hệ với Du-già hành tông (sa. yogācārin). Kinh Giải thâm mật(~ thế kỉ thứ 2) được xem là bộ kinh cổ nhất của loại này. Kinh này chia giáo lý của Phật thành ba loại và gọi là “ba thời chuyển pháp luân”. Thuộc lần “quay bánh xe pháp” đầu tiên là những bài kinh hệ A-hàm của hàng Thanh Văn; thuộc loại kinh thời chuyển pháp luân thứ hai là bộ kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa và cuối cùng, các bộ kinh liệt kê chính chúng vào lần chuyển pháp luân thứ ba. Thêm vào đó, kinh thuộc hai thời đầu được xem là vị liễu nghĩa, “chưa được giảng rõ ràng”, mà chỉ những bộ kinh thuộc thời thứ ba này được xem là “liễu nghĩa”, bao hàm ý nghĩa trọn vẹn. Bộ Nhập Lăng-già kinh cũng được xếp vào loại này mặc dù có bản chất tổng hợp nhiều giáo lý, pha trộn giáo lý Du-già với hệ thống Như Lai tạng và có vẻ như các vị sư khai sáng Duy thức tông không nhắc đến hoặc không lưu ý đến nó. Kinh này giữ một vị trí quan trọng trong Thiền tông.

Như Lai Tạng kinh

Thuộc về loại này là các bộ Như Lai tạng kinh (zh. 如來藏經, sa. tathāgatagarbhasūtra), Thắng Man sư tử hống nhất thừa đại phương tiện phương quảng kinh (zh. 勝鬘師子吼一乘大方便方廣經, sa. śrīmālāsiṃhanādasūtra) và Đại bát-niết-bàn kinh(zh. 大般涅槃經, sa. mahāparinirvāṇasūtra) hệ Đại thừa (rất khác với bộ kinh cùng tên văn hệ Pali). Ba bộ kinh này dạy rằng, mỗi chúng sinh đều có Như Lai tạng, được dịch và hiểu là Phật tính, Phật chủng (hạt giống Phật). Phật tính ở đây chính là khía cạnh của mỗi chúng sinh vốn đã giác ngộ và vì vậy có khả năng làm chúng sinh giác ngộ. Đây là một trong những ứng đáp quan trọng nhất từ phía Phật giáo cho vấn đề của nội tại và siêu việt. Giáo lý Như Lai tạng gây ảnh hưởng rất lớn cho nền Phật giáo Đông Á và tư tưởng này có thể được tìm thấy – dưới dạng này hay khác – trong tất cả các trường phái Phật giáo tại đây.

Kinh tập hợp

Thuộc về loại này là hai bộ kinh rất lớn với tính cách tập hợp những bộ kinh khác. Kinh Đại bảo tích (zh. 大寶積經, sa. mahāratnakūṭasūtra) bao gồm 49 bài kinh riêng biệt, và Đại tập kinh (zh. 大集經, sa. mahāsaṃnipātasūtra), gồm 17 bài kinh tương đối ngắn. Cả hai bộ kinh đều được xem là được biên tập vào thế kỉ thứ 5, mặc dù chứa những bài kinh cổ hơn nhiều.

Kinh nói về sự thác sinh và nơi thác sinh

Một số kinh tập trung vào các nghiệp dẫn đến sự thác sinh vào những cõi khác nhau, hoặc đặc biệt chú trọng đến giáo lý duyên khởi với 12 nhân duyên.

Kinh nói về giới luật

Thuộc về loại này là những bộ kinh nói về các nguyên tắc hướng dẫn các vị Bồ Tát. Ba bộ kinh tiêu biểu cho loại này là:

  • Phổ Minh Bồ Tát hội (zh. 普明菩薩會, sa. kāśyapaparivarta) nằm trong bộ kinh Đại bảo tích (zh. 大寶積經, sa. mahāratnakūṭasūtra),
  • Bồ Tát giới bản (zh. 菩薩戒本, sa. bodhisattvaprātimokṣa) và
  • Phạm võng kinh (zh. 梵網經, sa. brahmajālasūtra).
  6 cuốn 'thiên thư' thần bí

Kinh nói về những nhân vật được sùng bái

Có nhiều bộ kinh nói về bản chất và công đức của một vị Phật, Bồ Tát, hoặc các Tịnh độ đặc thù của chư vị, bao gồm Văn-thù-sư-lợi (zh. 文殊師利, sa. mañjuśrī),Địa Tạng (zh. 地藏, sa. kṣitigarbha), Phật A-súc (zh. 阿閦, sa. akṣobhya) và Phật Dược Sư (z. 藥師, sa. bhaiṣajyaguru).

Tiền Đại thừa kinh

Đầu thế kỉ 20, một kho kinh điển được tìm thấy trong một gò đất gần Gilgit, Afghanistan. Một trong số kinh văn được tìm thấy là bộ Vô năng thắng quân kinh (sa.ajitasenasūtra). Kinh này dường như là một sự kết hợp của tư tưởng Đại thừa và Tiền đại thừa. Nội dung kinh diễn biến trong phạm vi ngôi chùa của các tăng-già, giống như trường hợp các bộ kinh văn hệ Pali; kinh không có những điểm tương phản giữa hàng Thanh Văn (hoặc Tiểu thừa) hoặc nhắc đến thánh quả A-la-hánnhư trường hợp các kinh văn Đại thừa khác như kinh Pháp Hoa hoặc kinh Duy-ma-cật. Tuy nhiên, kinh cũng nhắc đến một A-la-hán thấy được các cõi Phật. Kinh nói rằng việc niệm danh kinh sẽ cứu độ chúng sinh thoát khỏi khổ đau cũng như các đoạ xứ, và một cách thiền quán được kinh văn đề cao là sẽ giúp hành giả thấy với cặp mắt Phật, và nhận giáo lý từ chư vị. Những điểm này rất giống với kinh văn Đại thừa sau này.

Kinh luận ngoài tiêu chuẩn

Luận văn chú giải, diễn giảng của Đại thừa rất nhiều và rộng, và trong nhiều trường hợp, các bài luận này được xem là quan trọng hơn cả kinh văn tiêu chuẩn.

Căn bản trung quán luận tụng (zh. 根本中觀論頌, sa. mūlamādhyamikakārikā) của Long Thụ (zh. 龍樹, sa. nāgārjuna) là bộ luận nền tảng của triết học Trung quán, có chủ đề như các bộ kinh thuộc hệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa mặc dù không hẳn là luận văn chú giải các bài kinh này.

Vào khoảng thế kỉ thứ 9, Tịch Thiên (zh. 寂天. sa. śāntideva) tác phẩm hai luận văn quan trọng là Nhập bồ-đề hành luận (sa. bodhicaryāvatāra) và Tập học luận (sa.śikṣāsamuccaya). Nhập bồ-đề hành luận có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều nhánh Đại thừa và cũng là bài luận vừa ý nhất của đức Đạt-lại Lạt-ma thứ 14, Đăng-châu Gia-mục-thố. Luận bắt đầu với việc thực hiện nghi lễ tôn kính, sau đó tiến đến phần giảng giải sáu Ba-la-mật-đa. Chương thứ 9 là một cách trình bày quan điểm Bát-nhã-ba-la-mật-đa của trường phái Trung quán-Cụ duyên (zh. 具緣派, sa. prāsaṅgika) cũng như chê trách những trường phái Phật giáo khác trên cơ sở Trung quán.Tập học luận, như tên cho thấy, là một bài luận tập hợp các giáo lý từ nhiều bài kinh Đại thừa. Nhiều bộ kinh được nhắc đến trong luận đã không còn nữa, chỉ biết được qua những lời trích dẫn trong kinh.

Đại sư Vô Trước (zh. 無著, sa. asaṅga) là người sáng lập trường phái Duy thức. Tương truyền Đại sư đã tiếp nhận nhiều bộ luận từ Bồ Tát Di-lặc tại cung trời Đâu-suất (sa. tuṣita). Những bộ luận đó là:

  1. Biện trung biên luận tụng (sa. madhyāntavibhāga-kārikā)
  2. Đại thừa kinh trang nghiêm luận tụng (sa. mahāyānasūtralaṅkāra-kārikā)
  3. Hiện quán trang nghiêm luận tụng (sa. abhisamayā-laṅkāra-nāmaprajñāpāramitā-upadeśa-śāstra [-kārikā] thường được viết tắt là abhisamayālaṅkāra-śāstra)

Đại sư Vô Trước cũng được xem là tác giả của Nhiếp đại thừa luận (sa. mahāyānasaṃgraha), Du-già sư địa luận (sa. yogācārabhūmi-śāstra) và Đại thừa a-tì-đạt-ma tập luận (sa. abhidharma-samuccaya). Đại thừa a-tì-đạt-ma tập luận có thể được xem là luận văn tổng hợp giáo lý A-tì-đạt-ma và đã trở thành bộ luận tiêu chuẩn trong nhiều trường phái Đại thừa, đặc biệt là tại Tây Tạng. Riêng Du-già sư địa luận có thể là tác phẩm của nhiều người.

Em của Đại sư Vô Trước là Luận sư Thế Thân (zh. 世親, sa. vasubandhu) đã viết nhiều bộ luận Duy thức như:

  1. Tam tính luận (sa. trisvabhāva-nirdeśa)
  2. A-tì-đạt-ma-câu-xá luận (sa. abhidharmakośaśāstra)
  3. Duy thức nhị thập luận (tụng) (sa. viṃśatikāvijñāptimātratāsiddhi-kārikā)
  4. Duy thức tam thập tụng (sa. triṃśikā-vijñāptimātratāsiddhi-kārikā)….

Tác phẩm có ảnh hưởng lớn nhất của Luận sư Thế Thân tại Đông Á có lẽ là Duy thức tam thập tụng. Theo một vài nhà nghiên cứu thì có thể có đến hai vị luận sư cùng tên Thế Thân và người trước đã viết bộ A-tì-đạt-ma-câu-xá luận, người sau đã soạn những tác phẩm Duy thức. Tuy nhiên, nhà Phật học Lê Mạnh Thát đã chứng minh trong The Philosophy of Vasubandhu rằng chỉ có một Thế Thân và giả thuyết “hai Thế Thân” có một cơ sở sai lầm.

Trần-na (zh. 陳那, sa. (mahā-)dignāga, diṅnāga) được xem là đại biểu của trường phái Nhận thức học (en. epistemology), gọi theo thuật ngữ nhà Phật là Nhân minh học (sa. hetuvidyā). Tập “đại thành” của Trần-na là Tập lượng luận (sa. pramāṇasamuccaya), được Pháp Xứng (zh. 法稱, sa. dharmakīrti) bổ sung thêm bài luận giải cơ bản, rất có giá trị là Lượng thích luận (zh. 量釋論, sa. pramāṇavarttika-kārikā).

Đại thừa khởi tín luận (sa. mahāyānaśraddhotpāda-śāstra) của Đại sư Mã Minh (zh. 馬鳴, sa. aśvaghoṣa) có ảnh hưởng rất lớn đến nền Phật giáo Đông Á, đặc biệt là trường phái Hoa Nghiêm tại Trung Quốc và Nhật. Các tác phẩm còn lại của Đại sư Mã Minh cũng rất được ưa chuộng.

Kim Cương thừa kinh

Đát-đặc-la Phật giáo

Thai tạng giới mạn-đồ-la (zh. 胎藏界曼荼羅 sa. garbhadhātumaṇḍala) củaChân ngôn tông

Đại tạng kinh của Kim cương thừa (zh. 金剛乘, sa. vajrayāna) bao gồm những kinh văn A-hàm của một số trường phái cũng như kinh điển Đại thừa. Tuy nhiên, những bộ kinh Kim cương thừa đặc thù có chứa các Đạt-đặc-la mới chính là tinh hoa của Đại tạng kinh này. Chúng được xem là lời của đức Phật, Đại tạng kinh Tây Tạng có khoảng 500 Đát-đặc-la (zh. 怛特羅, sa.tantra) và hơn 2000 bài luận giải hệ thuộc. Các bộ Đát-đặc-la có những điểm đặc thù, ví như đặc biệt chú trọng đến nghi lễ cũng như các phép thiền quán.

Truyền thống Tây Tạng sau này phân chia kinh văn Đát-đặc-la thành bốn loại, cụ thể là:

  1. Tác đát-đặc-la (sa. kriyā-tantra): chiếm phần lớn kinh văn Đát-đặc-la nhưng có ít tầm quan trọng, xuất hiện giữa thế kỉ thứ 2 và 6. Đát-đặc-la này chú ý đến phép tu luyện thông qua các hành động (nghi lễ v.v…). Mỗi Tát Đát-đặc-la xoay quanh nghi thức thờ cúng một vị Phật hoặc Bồ Tát, và nhiều vị lại đứng quanh những Đà-la-ni (sa. dhāraṇī). Kinh văn tiêu biểu cho nhóm này là Đại vân kinh (sa. mahāmeghasūtra), Văn-thù-sư-lợi căn bản nghi quỹ (zh. 文殊師利根本儀軌經, sa. āryamañjuśrīmūlakalpa), SubhāparipṛcchāsūtraAparimitāyurjñānahṛdayadhāraṇī.
  2. Hành đát-đặc-la (sa. caryā-tantra): Có một ít kinh văn thuộc thể loại Hành Đát-đặc-la, loại kinh có lẽ xuất hiện vào thế kỉ thứ 6, phép tu luyện hoàn toàn hướng đến việc tôn xưng đức Phật Đại Nhật. Ví dụ tiêu biểu là bộ Đại Tì-lô-giá-na thành Phật thần biến gia trì kinh (zh. 大毘盧遮那成佛神變加持經, sa. mahāvairocanābhisambodhitantra). Đát-đặc-la này sau được xem là kinh văn chính của tông Chân ngôn.
  3. Du-già-đát-đặc-la (sa. yoga-tantra): Phép tu luyện cũng hướng đến đức Phật Đại Nhật, bao gồm thêm hai bộ Nhất thiết Như Lai chân thật nhiếp đát-đặc-la(sa. sarvatathāgatatattvasaṃgrahatantra) và Nhất thiết nghiệp chướng thanh tịnh đát-đặc-la (sa. sarvadurgatipariśodhanatantra).
  4. Vô thượng du-già-đát-đặc-la (sa. anuttarayoga-tantra): Thể loại Đát-đặc-la cấp cao nhất này tập trung vào sự chuyển hóa tâm thức, ít lưu ý đến các nghi lễ bên ngoài. Chúng thỉnh thoảng được xếp theo Thân phụ đát-đặc-laThân mẫu đát-đặc-la:
    • Thứ nhất là loại Du-già vượt trội hơn (sa. yogottara), cũng được gọi là Thân phụ đát-đặc-la hoặc Phương tiện đát-đặc-la (sa. upāyatantra). Việc tu luyện nhắm đến đức Phật A-súc và nữ hành giả tùy tòng là Ma-ma-ki (sa. māmaki). Bộ Bí mật tập hội được xem là thuộc loại này, có lẽ xuất phát từ thế kỉ thứ 8.
    • Thứ hai là những Đát-đặc-la thuộc hệ Bát-nhã hoặc hệ Thân mẫu (cũng được gọi là Du-già-ni đát-đặc-la, sa. yoginī-tantra). Đức Phật A-súc vẫn là mục đích chủ đạo, nhưng giờ đây xuất hiện dưới dạng giận dữ là Thần thể Hê-ru-ka (sa. heruka). Các vị Phật nữ giờ đây đóng vai trò quan trọng hơn nhiều, ngang bằng những vị Phật nam hoặc không chừng là quan trọng hơn. Nhiếp đát-đặc-la (sa. saṃvaratantra) được dịch sang Tạng ngữ trong thế kỉ thứ 8. Những kinh văn khác thuộc nhóm này, ví như Hô kim cương đát-đặc-la (sa. hevajratantra), xuất hiện khoảng thế kỉ thứ 10.
  • Thời luân đát-đặc-la thỉnh thoảng được xem là một Bất nhị đát-đặc-la (sa. advayatantra). Bộ này xuất hiện rất trễ trong quá trình phát triển Mật giáo – vào khoảng giữa thế kỉ 11 – được viết bằng tiếng Phạn cổ điển rất chuẩn thay vì tiếng Phạn pha trộn cũng như lối văn ngầm chỉ(sa. saṃdhyābhāṣā) thường thấy trong những bộ khác. Lần đầu tiên giáo lý lại quay về đức Phật Bản Sơ (sa. ādibuddha).

Chứng cứ văn bản cho thấy rằng, một số Đát-đặc-la có nguồn từ Đát-đặc-la hệ Thấp-bà (sa. śaiva), được tiếp thu, thay đổi cho phù hợp cách tu luyện Phật giáo và có nhiều điểm giống nhau về nghi lễ cũng như hình tượng của Phật giáo Đại thừa mà chúng vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

Các tác phẩm khác của Kim cương thừa

Thành tựu pháp man (sa. sādhanamālā) là một tập nói về các Thành tựu pháp.

Các hành giả Kim cương thừa, cũng được gọi là Thành tựu giả (sa. siddha) thường dạy bằng những bài ca. Những tuyển tập như Sở hạnh ca (sa. caryāgīti), bao gồm những bài ca nói về sở hạnh của nhiều vị Thành tựu giả rất phổ biến.Đạo-bả tập (sa. dohakośa) là một tác phẩm tiêu biểu khác của Đại thành tựu giả Sa-ra-ha (sa. saraha), thế kỉ thứ 9.Mật-lặc-nhật-ba thập vạn ca (100.000 bài ca của Mật-lặc-nhật-ba, en. The Hundred Thousand Songs of Milarepa) cũng rất nổi tiếng.

Tàng lục (zh. 藏錄, bo. གཏེར་མ་) là những văn bản được tác phẩm, nhưng lại được chôn giấu để người đời sau tìm thấy ở một thời điểm nhất định. Liên Hoa Sinh đã viết, và giấu nhiều Tàng lục. Bộ Tàng lục nổi danh nhất có lẽ là bộ Tử thư (bo. བར་དོ་ཐོས་གྲོལ་). Người tìm được Tàng lục được gọi theo tiếng Tây Tạng là Tertön (bo. གཏེར་སྟོན་).

Không Hải có viết một loạt luận giải đặc thù cho truyền thống Chân ngôn tông Nhật Bản.

XEM THÊM

Trong một đời của Ðức Phật, tùy theo trình độ của mọi người mà thuyết pháp giáo hóa, mãi đến khi Ngài nhập diệt, cộng là 49 năm.
Những Kinh Pháp của Ngài nói ra, về sau các đệ tử kết tập chia ra làm năm thời:

1.Thời thứ nhất nói Kinh Hoa-Nghiêm
Khi Phật mới thành Ðạo, ở tại cội Bồ Ðề, nói KINH HOA NGHIÊM 21 ngày. Vạch rõ chân tánh, chỉ bày chỗ cao sâu mầu nhiệm của Ðạo Phật, chủ đích có hai điều:
a) Dẫn dắt các bậc Bồ tát lên địa vị Ðẳng giác và Diệu giác.
b) Nêu bày giáo pháp rốt ráo của NhưLai.

2.Thời thứ hai Phật nói Kinh A-Hàm
Ðức Thích Ca y theo chư Phật mà nói pháp Tam thừa. Vì vậy thời thứ hai, Ngài nói Kinh A Hàm trọn 12 năm, dùng thí dụ thực tế, chỉ rõ chân lý để tự tu và tự độ.

3.Thời thứ ba Phật nói Kinh Phương Ðẳng.
Ngài chỉ bày phương pháp giác tha, tức là khuyến khích và hướng dẫn các vị A la Hán phát tâm hóa độ chúng sanh.

4.Thời thứ tư Phật nói Kinh Bát Nhã.
Ðến khi Ðức Phật xem căn cơ của tăng chúng có thể tiến lên một từng cao nữa là hấp thụ được hoàn toàn giáo pháp, nên Ngài chỉ bày Ðạo lý chân không của Vũ trụ, thuyết minh cái thật tướng, vô tướng của các pháp. Đó là thời kỳ nói Kinh Bát Nhã trọn 22 năm.

5.Thời thứ năm Phật nói Kinh Pháp Hoa và Niết Bàn.
Sự hóa độ một đời của Ðức Phật gần viên mãn, thêm thấy căn cơ của tăng chúng đã thuần thục, có thể gánh vác việc hoằng pháp của Như Lai, nên Ngài bèn nói rõ bản hoài của Ngài thị hiện ra đời là vì một nguyên nhân lớn: “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến”. Ngài phú chúc, thọ ký cho các hàng đệ tử, tương lai sẽ thành Phật. Đó là thời nói Kinh Pháp Hoa và Kinh Niết Bàn trọn 8 năm.
Ðến đây nhiệm vụ thuyết pháp độ sanh của đời Ngài đã viên mãn.

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC

CÓ THỂ BẠN THÍCH XEM

VĂN HÓA VIỆT NAM

TIN MỚI NHẤT

Súng trường tấn công AK-19 của Nga

Kalashnikov hy vọng AK-19 sẽ tạo được dấu ấn trên thị trường súng trường tấn công toàn cầu ở các nước đang phát triển nhằm lấn át các nhà sản xuất súng phương Tây.

Theo thông báo, Công ty sản xuất súng Kalashnikov trực thuộc Tập đoàn Nhà nước Rostec của Nga sẽ giới thiệu loại súng trường tấn công AK-19 5,56 mm mới nhất của mình tại triển lãm vũ khí lớn nhất Trung Đông – IDEX 2021.

Kalashnikov cho biết, dòng súng trường tấn công mới nhất của họ đã thu hút được sự quan tâm lớn của các khách hàng ở Trung Đông, những nước vẫn sử dụng loại đạn tiêu chuẩn 5,56 × 45 mm.

“Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm và nhiều bụi, AK-19 sẽ phát huy được hiệu quả sử dụng mọi thời điểm, bay ngày hay ban đêm, hoạt động đáng tin cậy và nhận được quy trình bảo trì chu đáo,” thông báo của Kalashnikov cho hay.

Dmitry Tarasov, Tổng giám đốc của Kalashnikov nói rằng công ty hy vọng biến thể mới của họ sẽ đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu.

“AK-19 sử dụng loại đạn 5,56 × 45 mm đã được NATO chấp thuận và sử dụng rộng rãi trên thế giới. Vì vậy, dòng súng trường tấn công mới nhất của chúng tôi được thiết kế để hướng đến thị trường nước ngoài”.

“Giới thiệu AK-19 tại triển lãm vũ khí quốc tế lớn nhất IDEX 2021, chúng tôi chắc chắn sẽ nhận được sự quan tâm lớn từ phía các khách hàng nước ngoài”.

  Thôi Bối Đồ

Hãy quên AK-47 đi, súng trường tấn công AK-19 của Nga mới là “đẳng cấp”! – Ảnh 1.
AK-19 là một biến thể mới của AK-12, đã có mặt trong Lực lượng vũ trang Nga từ năm 2019.

Là biến thể súng trường tấn công hạng nhẹ được thiết kế dựa trên mẫu AK-12, chính thức biên chế cho các lực lượng vũ trang Nga kể từ năm 2019, AK-19 có báng súng gọn nhẹ với công thái học được cải tiến, trang bị một ống ngắm phía sau mới và một bộ hãm thanh tiên tiến, chiều dài nòng 415 mm và trọng lượng 3.350 gram.

Súng trường tấn công AK-19 sử dụng báng gấp trọng lượng nhẹ, thước ngắm cơ khí kiểu mới và loa che lửa có thể gắn nòng giảm thanh. AK-19 có dáng dấp hiện đại giống với các mẫu súng trường tấn công hàng đầu của phương Tây.

Mẫu súng AK-19 mới sở hữu tính năng tương tự như AK-12 với tầm bắn 440 m và ba chế độ bắn, gồm bắn phát một, bắn loạt hai viên và bắn liên thanh.

AK là dòng súng trường tấn công phổ biến hàng đầu thế giới, với khoảng 200 triệu khẩu đang được sử dụng. AK-47, phiên bản đầu tiên do tổng công trình sư Mikhail Kalashnikov thiết kế, đã được Hồng quân Liên Xô sử dụng từ năm 1949-1974.

Cho tới nay, Nga vẫn chưa mấy thành công với các phiên bản AK hậu Liên Xô vì vậy với việc cho ra mắt mẫu AK-19 mới, Nga hy vọng chúng sẽ tiếp tục viết tiếp những trang sử hào hùng của dòng AK huyền thoại.

  Mã Tiền Khóa

Kalashnikov hy vọng AK-19 sẽ tạo được dấu ấn trên thị trường súng trường tấn công toàn cầu ở các nước đang phát triển nhằm lấn át các nhà sản xuất súng phương Tây.

Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi nhà sản xuất súng của Nga quyết định chọn IDEX, triển lãm quốc phòng hàng đầu ở Trung Đông để quảng bá cho sản phẩm cải tiến mới nhất của mình ra thị trường toàn cầu.

Chè shan tuyết cổ

Dù giá bán cao ngất ngưởng, loại chè này vẫn được nhiều người tìm kiếm, gần Tết mặt hàng này còn “cháy”, khách muốn mua đều phải đặt trước.

Loại chè đặc sản này được lấy từ cây chè shan tuyết cổ, có tuổi đời khoảng vài trăm năm. Theo chị Việt Hà – một nhân viên của cơ sở sản xuất chè Shan tuyết cố, cây chè này một năm thường ra búp vào 4 vụ nhưng chỉ có 2 vụ chính nhiều trà vào đầu năm. Cơ sở sản xuất chè Shan tuyết của chị sẽ thu mua tất cả các tháng trong năm nhưng chỉ bán vào dịp cuối năm.

“Vì số lượng chè Shan tuyết chưa đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước nên tôi chỉ bán để làm quà tặng, biếu vào dịp Tết. Dù vậy, loại chè này chưa năm nào có đủ để bán cho khách, mọi người chủ yếu đều phải đặt trước và ký kết hợp đồng mới có hàng”, chị cho hay.

Người dân phải trèo lên cây cao để hái chè.

Người dân thu hái rồi bán lại cho các cơ sở sản xuất chè.

Riêng năm nay, cơ sở sản xuất chè của chị Hà đã chuẩn bị khoảng 20 tấn phục vụ khách hàng trong dịp Tết này. Và công ty của chị cũng nhận được rất nhiều đơn đặt hàng từ các công ty, doanh nghiệp, cá nhân đặt làm quà tặng Tết cho đối tác, gia đình, nhân viên…

  Niết bàn là gì?

Theo đó, chè Shan tuyết cổ có nhiều phân khúc giá phục vụ khách hàng từ uống phổ thông hàng ngày, làm nguyên liệu pha chế đến sản phẩm cao cấp dành làm quà biếu tặng phục vụ cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Giá thấp nhất khoảng hơn 700.000 đồng/kg, cao nhất là trà sen giá khoảng 25 triệu đồng/kg. Và giá của các loại trà này đều giữ vững, không biến động nhiều qua nhiều năm.

Với mong muốn làm ra chè chất lượng nhất, cơ sở sản xuất chè của chị Hà thu mua tất cả lượng chè tươi của 2 vùng Tà Xùa (Sơn La) và Suối Giàng (Yên Bái). Vì hai vùng này sẽ làm ra chè có vị ngon nhất. Theo đó, người dân ở 2 vùng này đều được hướng dẫn cách thu hái để 100% sản lượng đạt tiêu chuẩn chế biến trà cao cấp. Ngoài ra, cơ sở sản xuất chè của chị còn hỗ trợ người dân mở rộng diện tích trồng chè Shan tuyết để có thể đáp ứng nhu cầu thị trường trong tương lai.

Chè Shan tuyết có cách làm riêng để giữ nguyên được hương vị đặc trưng của nó.

Trên thị trường, chè Shan tuyết có đủ 4 dòng của thế giới trà: Trà xanh, hồng trà, bạch trà và Trà ép bánh, với mỗi một dòng sẽ có quy trình chế biến khác nhau. Trong đó, trà ép thành bánh đòi hỏi kỹ thuật cao nhất và không phải ai cũng làm được.

  Thôi Bối Đồ

Chị Hà cho biết trà shan tuyết cổ thụ tự nhiên có nội chất rất mạnh nên có thể pha được từ 10 đến 20 lần nước tùy theo dòng trà và dòng sản phẩm. Khi pha trà cần lưu ý không ngâm trà lâu quá 30 giây trong nước thì sẽ lấy được hương vị nội chất tinh tuý của trà.

Chè được ép thành bánh để bán cho khách hàng.

Dù giá chè cao, mặt hàng này vẫn không đủ cung cấp vào dịp Tết.

Theo tìm hiểu, đây là loại chè đặc sản Việt Nam có búp to màu trắng xám, dưới lá chè có phủ một lớp lông tơ mịn, trắng nên người dân gọi là chè tuyết. Chè Shan tuyết có mùi thơm dịu, nước vàng sánh màu mật ong. Chè được chế biến theo phương pháp thủ công của người dân tộc Tày, Mông, Dao.

Để hái chè, người dân phải trèo lên những cây chè cao, có độ tuổi lên đến vài trăm năm. Thông thường, cây chè này được canh tác hoàn toàn tự nhiên, không sử dụng bất cứhóa chất hay phân bón gì nên được xem là chè sạch. Và chúng có nhiều ở các tỉnh Hà Giang, Bắc Kạn, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái

Nhưng chè có vị ngon nhất ở Tà Xùa (Sơn La) hay Suối Giàng (Yên Bái). Nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng hàm lượng chất chống ung thư trong trà Shan Việt cao gấp 11 lần trà xanh tốt nhất của Nhật Bản.

  Tam thập lục kế

Tục xông đất

Người Việt tin rằng người xông đất có ảnh hưởng đến vận hạn cả năm của gia chủ, vì vậy từ tháng Chạp nhiều người đã chọn người xông đất Tết Tân Sửu 2021.

 Việc chọn người xông đất phù hợp với gia đình trong dịp đầu năm rất được coi trọng. Tùy theo từng năm, cần chọn người có tuổi, mệnh hợp với năm đó, và tương sinh với tuổi của mình, nghĩa là phải có thiên can, ngũ hành, địa chi tương hợp.

Bên cạnh đó, cần tránh đi các tuổi phạm vào tứ hành xung, được cho là sẽ đem lại điều không may cho gia chủ nếu xông đất đầu năm.

Tuổi xông đất năm Tân Sửu phù hợp nhất

Tuổi phù hợp nhất để xông đất Tết Tân Sửu 2021 gồm Quý Tỵ (1953), Đinh Dậu (1957), Nhâm Tý (1972), Đinh Tỵ (1977), Quý Dậu (1993), Bính Tý (1996).

Ngoài những tuổi xông đất rất tốt đó, có một số tuổi cũng có thể xông nhà, mở hàng tương đối tốt cho năm Tân Sửu là Bính Thân (1956), Canh Tý (1960), Nhâm Dần (1962), Quý Mão (1963), Ất Tỵ (1965), Bính Ngọ (1966), Kỷ Dậu (1969), Tân dậu (1981), Quý Hợi (1983), Giáp Tý (1984), Bính Dần (1986), Đinh Mão (1987), Kỷ Tỵ (1989), Nhâm Thân (1992).

Mọi gia đình đều có thể chọn một trong những tuổi này để xông đất Tết Tân Sửu, giúp cho năm mới suôn sẻ, “đầu xuôi đuôi lọt”.

Tuổi xông đất năm Tân Sửu phù hợp nhất là Quý Tỵ (1953), Đinh Dậu (1957), Nhâm Tý (1972), Đinh Tỵ (1977), Quý Dậu (1993), Bính Tý (1996).

Tuổi xông đất năm Tân Sửu 2021 theo mệnh là:

  • Chủ nhà mệnh Kim nên chọn người xông đất mệnh Thổ hoặc Kim.
  • Chủ nhà mệnh Mộc nên chọn người xông đất mệnh Thủy, Mộc.
  • Chủ nhà mệnh Thủy nên chọn người xông đất mệnh Kim là tốt nhất.
  • Chủ nhà mệnh Hỏa nên chọn người xông đất mệnh Mộc hoặc Hỏa.
  • Chủ nhà mệnh Thổ nên chọn nên chọn người xông đất mệnh Thổ, Hoả.
  Truyện Kiều

Dựa vào thiên can tương hợp, địa chi thuộc vào tam hợp (Dần – Ngọ và Tuất, Hợi – Mão và Mùi, Thân – Tý và Thìn, Tỵ – Dậu và Sửu), nhị hợp, lục hợp (Sửu và Tý, Dần và Hợi, Ngọ và Mùi, Mão và Tuất, Tỵ và Thân, Thìn và Dậu), bạn có thể lựa chọn người xông đất 2021 phù hợp.

Tránh chọn tuổi xông đất năm Tân Sửu thuộc tứ hành xung với chủ nhà. Cũng không nên chọn người xông có thiên can và địa chi xung phá đối với thiên can địa chi của năm, người có tang hoặc làm ăn thua lỗ, dù tuổi của họ phù hợp xông đất Tết Tân Sửu.

Ý nghĩa của tục xông đất đầu năm

Theo truyền thống, sau giao thừa, người nào bước vào nhà đầu tiên cùng với lời chúc mừng năm mới chính là người xông đất. Tục xông đất đã có từ rất lâu, xuất phát từ mong muốn về một năm mới an lành, thịnh vượng, tránh đi những xui xẻo trong năm cũ.

Ông bà ta tin rằng, người xông đất sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến vận hạn của gia chủ trong một năm. Nếu được người nào xởi lởi, hợp vía đến xông đất thì cả năm đó sẽ được tốt lành. Gặp người không hợp vía, hợp vận sẽ khiến cả năm khó khăn, không may mắn.

Người xông đất phải là người tốt vía, tính tình vui vẻ, khỏe mạnh, sự nghiệp thành công.

Tất nhiên đây chỉ là quan niệm dân gian. Ngày nay, trải qua bao thế hệ, người Việt vẫn giữ tục xông đất nhưng không còn khắt khe như xưa. Nhiều gia đình vẫn chú ý mời người hợp tuổi nhưng không còn quá đặt nặng chuyện hậu vận may rủi mà chỉ coi đây như một văn hóa ngày Tết, là niềm vui nho nhỏ mỗi dịp xuân về.

  Pháp Luân Đại Pháp

Nhiều gia đình không xem tuổi mà chỉ đơn giản là mời người họ yêu mến, tính tình vui vẻ, xởi lởi, toát ra năng lượng tích cực, gia đạo êm ấm… đến xông đất nhà mình. Một số gia đình thì để “tùy duyên”, ai đến xông đất cũng được đón tiếp vui vẻ.

Trên một phương diện nào đó, tục xông đất cũng mang ý nghĩa giúp con người thân thiết, gắn bó hơn và mang đến cho nhau những lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất.

Chọn người xông đất cho cơ quan, công ty

Ngày mở đầu công ty theo năm tuổi

Theo các chuyên gia phong thủy, ngày tốt nhất để khai trương, mở cửa hàng, công ty trong tháng 2 năm 2021 (tức tháng Giêng năm Tân Sửu Âm lịch) gồm các ngày:

  • 13/2 (2/1/2021 Âm lịch)
  • 19/2 (8/1/2021 Âm lịch)
  • 21/2 (10/1/2021 Âm lịch)
  • 23/2 (12/1/2021 Âm lịch)

Ngoài ra, nếu chủ doanh nghiệp cẩn thận hơn thì có thể chọn ngày lành mở hàng, mở công ty đầu năm theo tuổi, cụ thể bạn có thể tham khảo trong bảng dưới đây:

Tuổi Ngày đẹp theo Âm lịch Ngày đẹp theo Dương lịch
  • 2/1/2021 – Nhâm Thìn
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 13/2/2021
  • 19/2/2021
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Sửu
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Dần
  • 2/1/2021 – Nhâm Thìn
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 13/2/2021
  • 19/2/2021
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Mão
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 19/2/2021
  • 23/2/2021
Thìn
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Tỵ
  • 2/1/2021 – Nhâm Thìn
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 13/2/2021
  • 19/2/2021
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Ngọ
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 19/2/2021
  • 23/2/2021
Mùi
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Thân
  • 2/1/2021 – Nhâm Thìn
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 13/2/2021
  • 19/2/2021
  • 21/2/2021
Dậu
  • 2/1/2021 – Nhâm Thìn
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 13/2/2021
  • 23/2/2021
Tuất
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 19/2/2021
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Hợi
  • 2/1/2021 – Nhâm Thìn
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 13/2/2021
  • 19/2/2021
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
  Niết bàn là gì?

Người xông đất hợp với mệnh của lãnh đạo

Xét theo mệnh thì chọn người xông đất công ty phải có Ngũ hành tương sinh hoặc tương hợp với mệnh của lãnh đạo.

  • Lãnh đạo mệnh Kim: cùng mệnh hoặc mệnh Thổ, mệnh Thủy, tránh mệnh Mộc, mệnh Hỏa.
  • Lãnh đạo mệnh Mộc: cùng mệnh hoặc mệnh Thủy, mệnh Hỏa, tránh mệnh Kim, mệnh Thổ.
  • Lãnh đạo mệnh Thủy: cùng mệnh hoặc mệnh Kim, mệnh Mộc, tránh mệnh Thổ, mệnh Hỏa.
  • Lãnh đạo mệnh Hỏa: cùng mệnh hoặc mệnh Mộc, mệnh Thổ, tránh mệnh Thủy, mệnh Kim.
  • Lãnh đạo mệnh Thổ: cùng mệnh hoặc mệnh Kim, mệnh Hỏa, tránh mệnh Thủy, mệnh Mộc.

 

Người xông đất hợp với tuổi của lãnh đạo

Sau khi đã chọn tuổi xông đất theo Ngũ hành, chúng ta tiếp tục xét theo Thiên can để tìm ra người hợp tuổi nhất với lãnh đạo.

  • Lãnh đạo tuổi Tý: tuổi Thân, Thìn (Tam hợp), tuổi Sửu (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Sửu: tuổi Tỵ, Dậu (Tam hợp), Tý (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Dần: tuổi Ngọ, Tuất (Tam hợp), Hợi (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Mão: tuổi Mùi, Hợi (Tam hợp), Tuất (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Thìn: tuổi Tý, Thân (Tam hợp), Dậu (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Tỵ: tuổi Sửu, Dậu (Tam hợp), Thân (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Ngọ: tuổi Dần, Tuất (Tam hợp), Mùi (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Mùi: tuổi Mão, Hợi (Tam hợp), Ngọ (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Thân: tuổi Tý, Thìn (Tam hợp), Tỵ (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Dậu: tuổi Sửu, Tỵ (Tam hợp), Thìn (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Tuất: tuổi Dần, Ngọ (Tam hợp), Mão (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Hợi: tuổi Mão, Mùi (Tam hợp), Dần (Nhị hợp).

* Thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo.

https://coccoc.com/search?query=tu%E1%BB%95i%20x%C3%B4ng%20%C4%91%E1%BA%A5t&shared=1&share=horoscope

Súng trường tấn công SA-066 của Nga

Mẫu súng ‘kỳ phùng địch thủ’ của AK-74

SA-066 chính xác gấp rưỡi AK-74, song không được quân đội Liên Xô chọn lựa vì đi kèm nhiều yêu cầu về trình độ xạ thủ và bảo dưỡng.

Bộ tư lệnh quân đội Liên Xô vào thập niên 1970 tiến hành các cuộc thử nghiệm để tìm kiếm mẫu súng trường tấn công mới để thay thế dòng AK-47 vốn được biên chế từ năm 1948 và đã trở nên lạc hậu.

“Một số hạn chế của AK-47 là sử dụng đạn quá mạnh và độ rơ lớn, dẫn đến độ chính xác thấp, đặc biệt khi xạ thủ đứng bắn. Điều này không tốt khi đánh cận chiến hoặc tác chiến ẩn mình trong các tòa nhà”, một nguồn tin trong lực lượng thực thi pháp luật Nga cho biết.

Nhà máy Cơ khí Kovrov (KMZ) khi đó giới thiệu SA-006, mẫu súng suýt chút nữa đánh bại AK-74 của tổng công trình sư Mikhail Kalashnikov. SA-006 được trang bị hệ thống tự động cân bằng gồm hai bộ phận trượt ngược chiều nhau bên trong thân súng nhằm giảm độ giật của mỗi phát bắn tới 50%.

AEK-971, biến thể hiện đại hóa của SA-006. Ảnh: Vitaly Kuzmin.

“Trong các cuộc thử nghiệm, AK-74 và SA-006 đều chứng tỏ độ chính xác cao hơn nhiều AK-47 nhờ sử dụng đạn 5,45×39 mm”, tổng biên tập tạp chí Kho vũ khí của Tổ quốc Viktor Murahovsky nói.

“SA-006 có độ chính xác cao hơn 1,5 lần so với AK-74, mẫu súng sau này được chọn làm vũ khí tiêu chuẩn của quân nhân Liên Xô và Nga trong nhiều thập kỷ”, Murahovsky cho biết.

  6 cuốn 'thiên thư' thần bí

Một binh sĩ Nga khai hỏa súng AK-74. Ảnh: TASS.

Các chuyên gia nhận định lý do quân đội Liên Xô chọn AK-74 làm súng trường tấn công tiêu chuẩn do vũ khí này đơn giản và tương đồng với mẫu cũ. Điều này giúp các đơn vị công nghiệp quốc phòng Liên Xô dễ sản xuất các bộ phận và hộp tiếp đạn cho AK-74 do họ đã quen chế tạo AK-47 trong thời gian dài.

Ngoài ra, AK-74 được đánh giá phù hợp với mọi xạ thủ, từ tân binh cho tới lính chuyên nghiệp. “Nếu đưa SA-006 vào phát triển, nhiều thứ sẽ cần hiện đại hóa hoặc thay đổi và tốn kém rất nhiều tiền. Do AK-74 cho kết quả tốt, họ quyết định dừng lại ở đó”, Murahovsky nói.

Các bộ phận của AEK-971, biến thể hiện đại hóa của SA-006. Ảnh: Vitaly Kuzmin.

SA-006 sau đó được cải tiến và trở thành AEK-971, mẫu súng trường tấn công đang được một số đơn vị của Tổng cục An ninh Liên bang Nga (FSB) sử dụng.

“AEK-971 có độ giật thấp hơn AK-74. Mẫu súng này có tốc độ bắn tới 900 phát/phút, còn súng AK vào khoảng 600 phát/phút. AEK-971 tốt, song rất nhạy và chỉ phù hợp với những người lính đủ kinh nghiệm sử dụng súng”, nguồn tin trong lực lượng thực thi pháp luật Nga cho biết.

Nguồn tin cho biết một người lính ít được huấn luyện sẽ không biết cách tháo lắp lẫn bảo trì AEK-971 do mẫu súng này có nhiều bộ phận và đòi hỏi các công cụ đặc biệt hơn AK-74. “Bạn không thể ném AEK-971 vào đống cát rồi nhặt nó lên và bắn. Bạn cần biết phải làm gì với nó và cần thực hiện những thao tác nào”, nguồn tin cho biết.

Nguyễn Tiến (Theo RBTH)

Súng bắn tỉa ASVK mạnh nhất của Nga

Mẫu súng bắn tỉa Nga có thể khoan thủng xe bọc thép

ASVK là súng bắn tỉa mạnh nhất của Nga, có thể xuyên thép 20 mm ở khoảng cách 500 m và phá hủy thiết giáp hạng nhẹ từ 2 km.

Trong chiến tranh tại Chechnya, quân đội Nga đã tìm kiếm một mẫu súng trường có thể tiêu diệt hiệu quả lực lượng đối phương từ khoảng cách xa. Một trong những tiêu chí lựa chọn là súng có thể tiêu diệt kẻ thù dù đạn không trúng bất cứ bộ phận hiểm yếu nào trên cơ thể.

Đây là lý do các hãng vũ khí Nga quyết định thiết kế mẫu súng lấy cảm hứng từ súng trường bắn tỉa mạnh nhất của nước ngoài sử dụng đạn .50 BMG 12.7×99 mm, như khẩu Barret M82/M107 của Mỹ, vốn có khả năng hạ mục tiêu cách xa vài km.

Súng trường Bắn tỉa Cỡ nòng lớn của Quân đội (ASVK) ra đời, sử dụng đạn cỡ 12,7×108 mm, trở thành vũ khí bắn tỉa mạnh nhất của Nga khi có thể xuyên thủng dễ dàng tấm thép dày 20 mm ở khoảng cách 500 m.

Đây là loại đạn từng được sử dụng cho các mẫu súng trường diệt tăng và đại liên hạng nặng do Liên Xô và Nga sản xuất, trong đó có DShK, NSV và Kord, với giá khoảng 30-40 USD/viên.

Súng trường bắn tỉa hạng nặng ASVK. Ảnh: vitalykuzmin.net.

ASVK sử dụng thiết kế kiểu bullpup, với hộp tiếp đạn được đặt phía sau cò súng hoặc “tích hợp” vào báng súng. Thiết kế bullpup giúp tăng đáng kể chiều dài nòng súng trong khi vẫn giữ nguyên kích thước tổng thể. Tổng chiều dài của ASVK là 1,35 m, trong đó nòng súng dài một mét.

  Võ kinh thất thư

Nòng súng của ASVK được làm dày dặn, có khối lượng lớn để giảm độ giật khi bắn. Ngoài ra, chụp bù giật cỡ lớn ở đầu nòng có thể giúp giảm độ giật xuống 2,5 lần. Phần đệm đế báng súng được làm bằng vật liệu xốp đặc biệt, góp phần triệt tiêu lực giật tác động lên vai xạ thủ.

Nòng súng được gắn cố định với buồng đạn, song gần như không tiếp xúc với các bộ phận khác của súng.

Hộp tiếp đạn cứng cáp, nòng nặng và cơ chế lên đạn thủ công giúp tăng độ chính xác của ASVK trong tác chiến. Tay kéo bệ khóa nòng và chốt an toàn được bố trí bên phải thân súng.

ASVK và các biến thể được quân đội Nga và hai nước khác sử dụng, chủ yếu cho nhiệm vụ chống bắn tỉa, tiêu diệt thiết giáp hạng nhẹ và các ổ đại liên của đối phương từ khoảng cách 1,5-2 km.

Súng trường bắn tỉa hạng nặng ASVK. Ảnh: vitalykuzmin.net.

Yuri Sinichkin, cựu xạ thủ bắn tỉa Nga, cho rằng ASVK mạnh hơn các mẫu súng trường bắn đạn 12,7 mm của Mỹ và châu Âu, rất phù hợp để loại bỏ thiết giáp hạng nhẹ của đối phương từ khoảng cách xa. Tuy nhiên, nó còn tồn tại một số nhược điểm đáng kể.

Nhược điểm lớn nhất của ASVK là độ chính xác không cao, thậm chí không đáp ứng được yêu cầu của xạ thủ bắn tỉa trong điều kiện thực chiến. “Đạn lệch tới 2 độ, nghĩa là bạn chỉ có thể bắn trúng mục tiêu cỡ lớn ở khoảng cách một km, bởi đạn có thể chệch rất xa so với mục tiêu”, Sinichkin nói.

  Niết bàn là gì?

Một nhược điểm khác của ASVK là giá thành đắt đỏ, khoảng 37.000 USD một khẩu, tương đương các mẫu súng trường bắn tỉa hạng nặng của những hãng đối thủ như Barret và Accuracy International. Đạn của mẫu súng này cũng rất đắt, hạn chế đáng kể khả năng luyện tập của người bắn.

“Với số tiền này, tôi thà mua súng trường của Mỹ vì chúng vượt trội về công năng và kỹ thuật so với ASVK”, cựu xạ thủ Nga cho biết.

Nguyễn Tiến (Theo RBTH)