19 C
hanoi
Thứ Ba, Tháng Ba 2, 2021

Kinh Kim Cương là một văn bản của Phật giáo Đại thừa ghi chép lại những lời giảng, giáo lý tôn giáo của Đức Phật. Một bản sao của nó được tìm thấy trong hang Mạc Cao ở Trung Quốc là cuốn sách in hoàn chỉnh lâu đời nhất thế giới, có niên đại năm 868.

Hình vẽ trên trang đầu tiên của Kinh Kim Cương. Ảnh: Wikipedia.

Kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa (Vajracchedika prajnaparamita sutra) là một trong những văn bản được tôn kính nhất của Phật giáo Đại thừa [nhánh Phật giáo phổ biến ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đông Nam Á]. Người ta thường gọi nó với tên ngắn gọn hơn là Kinh Kim Cương hay Kinh Kim Cang. Thuật ngữ “Kinh” (sutra) trong tiếng Phạn mang nghĩa một “bài thuyết giáo”, hay “bài thuyết pháp” của Đức Phật.

Kinh Kim Cương thuộc một bộ kinh sách lớn hơn của Phật giáo Đại thừa thời kỳ đầu gọi là Bát Nhã Ba La Mật Đa, hay “Sự hoàn hảo của Trí tuệ”. Một tác phẩm nổi tiếng khác cũng thuộc bộ kinh sách này là Bát Nhã Tâm Kinh. Các bộ kinh đều do đệ tử ghi chép lại lời giảng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, hay Tất Đạt Đa Cồ Đàm. Nhiều học giả tin rằng, chúng được viết từ thế kỷ 1 trước Công nguyên và hoàn thành sau đó vài thế kỷ.

Vào đầu thế kỷ 20, một tu sĩ Đạo giáo tên Wang Yuanlu chịu trách nhiệm trông coi hang Mạc Cao ở thành phố Đôn Hoàng, Trung Quốc. Tại đây, Wang tình cờ phát hiện một cánh cửa bí mật dẫn đến căn phòng kín chứa 40.000 tài liệu và đồ tạo tác cổ, trong đó có một bản sao của Kinh Kim Cương. Đây là cuốn sách in hoàn chỉnh cổ nhất thế giới từng được con người biết đến, và nó vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Khí hậu sa mạc khô cằn của Đôn Hoàng là điều kiện hoàn hảo giúp bảo quản các cuốn sách.

Nhờ một ghi chú ngắn ở cuối bản sao Kinh Kim Cương, chúng ta có thể biết rõ nguồn gốc và niên đại của nó. Nội dung cụ thể như sau: “Wang Jie thay mặt cha mẹ phân phát miễn phí cuốn sách này vào ngày 11 tháng 5 năm 868 [thuộc triều đại nhà Đường]”.

Aurel Stein, nhà khảo cổ học mang bản sao Kinh Kim Cương từ Trung Quốc tới nước Anh. Ảnh: History.

Năm 1907, Aurel Stein – nhà khảo cổ người Anh gốc Hungary – đến thăm hang Mạc Cao trong một chuyến thám hiểm trên Con đường tơ lụa và gặp Wang Yuanlu. Ông chi số tiền 130 bảng Anh để mua lại 24 thùng chứa đầy tài liệu [trong đó bao gồm Kinh Kim Cương, truyện dân gian, nhạc kịch, thơ, tiểu luận, tiểu thuyết,..], các bức tranh lụa, đồ thêu dệt, đồ tạo tác mang tính nghệ thuật cao. Sau đó, ông đem tất cả chúng về nước Anh.

Hiện nay, bản sao của Kinh Kim Cương lấy từ hang Mạc Cao đang được trưng bày tại Thư viện Anh ở London. Hang Mạc cao cũng trở thành một di sản văn hóa của thế giới. Nhà nước Trung Quốc thành lập một ủy ban chuyên nghiên cứu và tu bổ hang, nhưng chỉ có điều các báu vật “một đi không trở lại” thì chẳng tiền của nào có thể đánh đổi.

Bản sao Kinh Kim Cương được tạo ra bằng phương pháp in khối, hay in mộc bản. Người thợ khắc các nét chữ, hình vẽ lên một tấm gỗ. Phần có chữ sẽ nổi lên cao, phần không chữ được khoét lõm xuống. Khi in, người ta phủ một lớp mực mỏng trên bề mặt tấm gỗ, sau đó đặt tờ giấy lên và dùng một thanh gỗ đã mài nhẵn gạt nhẹ phía trên tờ giấy. Giấy in được ngâm trong một loại thuốc nhuộm màu vàng chiết xuất từ cây Hoàng bá mang đặc tính diệt sâu bọ và côn trùng. Bản khắc gỗ có nhược điểm là nếu hỏng một từ hoặc một ký tự thì phải làm lại cả khuôn in.

Kinh Kim Cương là văn bản khá ngắn ngọn, trong đó bao gồm một cuộc đàm luận giữa Đức Phật và tôn giả Tu Bồ Đề. Trang đầu tiên là một bức tranh mô tả đức Phật được bao quanh bởi các nhà sư, tín đồ và các vị thần. Ở góc dưới bên trái là đệ tử Tu Bồ Đề đang lắng nghe Đức Phật trình bày giáo lý trong Kinh Kim Cương.

Bản dịch tiếng Anh của Kinh Kim Cương thông thường chỉ khoảng 6.000 từ, và người đọc có thể hoàn thành nó trong vòng chưa đầy 40 phút. Cuốn sách chứa đựng thông điệp rất sâu sắc, có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Một trong những cách diễn giải cơ bản nhất về Kinh Kim Cương là lời khích lệ của Đức Phật đối với các đệ tử, kêu gọi họ “vượt qua những ảo tưởng về thực tại xung quanh để nhận thức rõ những điều có thật”.

Năm 401 sau Công nguyên, một tu sĩ Phật giáo tên là Cưu Ma La Thập lần đầu tiên dịch Kinh Kim Cương sang tiếng Trung Quốc. Phong cách dịch thuật của Cưu Ma La Thập khá mạch lạc, trôi chảy, tập trung chủ yếu vào việc truyền đạt ý nghĩa của cuốn kinh thay vì dịch chính xác theo nghĩa đen một cách rập khuôn. Nội dung bản sao Kinh Kim Cương tìm thấy ở Đôn Hoàng cũng là bản dịch của Cưu Ma La Thập. Trong thế kỷ tiếp theo, thái tử Chiêu Minh – con trai của Lương Vũ Đế – chia kinh sách thành 32 chương và đặt tiêu đề cho chúng [bản nguyên văn tiếng Phạn không chia chương mục]. Cách phân chia này vẫn còn được sử dụng đến ngày nay, mặc dù các dịch giả không phải lúc nào cũng dùng tên tiêu đề giống như của thái tử Chiêu Minh.

Đến cuối triều đại nhà Đường (năm 907), việc sao chép và tụng Kinh Kim Cương là một thực hành phổ biến của những người mộ đạo. Ước tính có hơn 80 tác phẩm diễn giải Kinh Kim Cương của các phật tử nổi tiếng ở Trung Quốc như Tăng Triệu, Tạ Linh Vận, Trí Nghĩ, Tông Mật,… Trong số đó, chỉ còn 32 tác phẩm tồn tại đến ngày nay.

Một câu chuyện thú vị về Kinh Kim Cương liên quan đến sự giác ngộ của Huệ Năng, vị tổ sư thứ sáu và cuối cùng của Phật giáo Thiền Tông Trung Quốc. Theo cuốn tự truyện của nhà sư Huệ Năng, khi ông đi bán củi ở ngoài chợ lúc còn trẻ, ông tình cờ nghe người khác tụng Kinh Kim Cương và đạt được giác ngộ.

Năm 2004, bản sao Kinh Kim Cương có nguồn gốc ở Đôn Hoàng được trưng bày tại Triển lãm Con đường tơ lụa do Thư viện Anh tổ chức. Hiện nay, toàn bộ các trang của kinh sách có thể xem online, thông qua trang web của Thư viện Anh.

Quốc Hùng (Theo Ancient Origins, Live Science)

KINH KIM CANG

Đoàn Trung Còn – Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải
Nhà xuất bản: Tôn Giáo PL. 2550 – DL. 2006

Tôi nghe như thế này. Khi Phật ở thành Xá-vệ, vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng với các vị đại tỳ-kheo là một ngàn hai trăm năm mươi vị.

Đến giờ thọ trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực. Vào trong thành, theo thứ tự khất thực, rồi trở về tinh xá. Thọ trai xong, thu dọn y bát, rửa chân tay, trải tòa ra ngồi.

Lúc ấy Trưởng lão Tu-bồ-đề từ chỗ ngồi trong đại chúng đứng dậy, bày vai bên phải, quỳ gối phải, cung kính chắp tay bạch Phật rằng: “Thế Tôn, thật ít có! Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát.

“Thế Tôn! Nếu có những kẻ nam người nữ có lòng lành phát tâm cầu đạo Vô Thượng Bồ-đề, nên trụ tâm như thế nào? Hàng phục tâm như thế nào?”

Phật dạy: “Lành thay! Lành thay! Tu-bồ-đề, đúng như ông vừa nói. Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ Tát, khéo dặn dò các vị Bồ Tát. Nay ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì các ông mà giảng thuyết.

“Nếu những kẻ nam người nữ có lòng lành phát tâm Bồ-đề, nên trụ tâm như thế này, nên hàng phục tâm như thế này.”

“Bạch Thế Tôn! Chúng con nguyện được lắng nghe.”

Phật dạy Tu-bồ-đề: “Các vị Đại Bồ Tát nên hàng phục tâm như thế này: ‘Đối với tất cả các loài chúng sinh, hoặc sinh từ bào thai, hoặc sinh từ trứng, hoặc sinh nơi ẩm thấp, hoặc do biến hóa sinh ra, hoặc có hình sắc, hoặc không có hình sắc, hoặc có tư tưởng, hoặc không có tư tưởng, hoặc chẳng phải có tư tưởng cũng chẳng phải không có tư tưởng, ta đều độ cho nhập vào Vô dư Niết-bàn. Như vậy diệt độ vô số chúng sinh, nhưng thật không có chúng sinh nào được diệt độ.

“Vì sao vậy? Tu-bồ-đề, nếu Bồ Tát có các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, thì chẳng phải là Bồ Tát.

“Lại nữa, Tu-bồ-đề! Bồ Tát theo đúng pháp, nên lấy tâm không chỗ trụ mà làm việc bố thí. Nghĩa là chẳng nên trụ nơi hình sắc mà bố thí, chẳng nên trụ nơi âm thanh, hương thơm, mùi vị, cảm xúc, pháp tướng mà bố thí.

  Lĩnh Nam Chích Quái

“Tu-bồ-đề! Bồ Tát nên bố thí như vậy đó, không trụ nơi tướng.

“Vì sao vậy? Nếu Bồ Tát bố thí với tâm không trụ tướng, phước đức ấy chẳng thể suy lường.

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Hư không phương đông có thể suy lường được chăng?”

“Bạch Thế Tôn, chẳng thể được.”

“Tu-bồ-đề! Hư không các phương nam, tây, bắc, bốn phương phụ, phương trên, phương dưới có thể suy lường được chăng?”

“Bạch Thế Tôn, chẳng thể được.”

“Tu-bồ-đề! Bồ Tát bố thí với tâm không trụ tướng, phước đức cũng như vậy, chẳng thể suy lường.

“Tu-bồ-đề! Bồ Tát chỉ nên trụ tâm theo như chỗ đã chỉ dạy.

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể dùng thân tướng mà thấy Như Lai chăng?”

“Bạch Thế Tôn, chẳng thể được. Chẳng thể dùng thân tướng mà thấy Như Lai. Vì sao vậy? Như Lai dạy rằng thân tướng vốn thật chẳng phải là thân tướng.”

Phật bảo Tu-bồ-đề: “Phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức là thấy Như Lai.”

Tu-bồ-đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Liệu có chúng sinh nào nghe lời thuyết dạy này mà sinh lòng tin chân thật chăng?”

Phật bảo Tu-bồ-đề: “Chớ nên nói thế! Như Lai diệt độ rồi, sau năm trăm năm sẽ có những người tu phước giữ theo giới luật, đối với lời thuyết dạy này thường sinh lòng tin, nhận là chân thật. Nên biết những người này chẳng phải chỉ ở nơi một, hai, ba, bốn, năm đức Phật gieo trồng căn lành, mà vốn thật là đã từng ở nơi vô số ngàn vạn đức Phật gieo trồng căn lành.

“Như có chúng sinh nào nghe lời thuyết dạy này, dù chỉ một niệm sinh lòng tin trong sạch, Tu-bồ-đề, Như Lai ắt sẽ thấy biết rằng những chúng sinh ấy được vô lượng phước đức. Vì sao vậy? Những chúng sinh ấy không sinh khởi lại các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, không khởi pháp tướng, cũng không khởi phi pháp tướng.

“Vì sao vậy? Những chúng sinh ấy nếu tâm chấp giữ tướng, tức mắc vào ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Nếu giữ lấy pháp tướng tức mắc vào ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Vì sao vậy? Nếu giữ lấy phi pháp tướng, tức mắc vào ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả.

“Vì thế, chẳng nên chấp giữ lấy pháp, cũng chẳng nên chấp giữ lấy phi pháp.

“Do nơi nghĩa này, Như Lai thường nói: Các vị tỳ-kheo nên biết, pháp Phật thuyết dạy như cái bè qua sông. Pháp còn nên xả bỏ, huống chi những gì chẳng phải pháp?

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng? Như Lai có chỗ thuyết pháp chăng?”

Tu-bồ-đề thưa: “Theo như chỗ con hiểu nghĩa Phật đã dạy, không có pháp xác định gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng không có pháp xác định nào Như Lai có thể thuyết.

“Vì sao vậy? Chỗ thuyết pháp của Như Lai thảy đều chẳng thể chấp giữ lấy, chẳng thể nói ra, chẳng phải là pháp, cũng chẳng phải là phi pháp.

“Vì sao vậy? Tất cả các bậc thánh hiền đều dùng pháp vô vi, nhưng có chỗ sai biệt nhau.”

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Nếu có người làm đầy cõi Tam thiên đại thiên thế giới với bảy món báu, rồi dùng mà bố thí, được phước đức nhiều chăng?”

Tu-bồ-đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Vì sao vậy? Phước đức, thật chẳng phải là tánh phước đức, nên Như Lai nói là nhiều phước đức.”

“Nếu lại có người thọ trì chỉ bốn câu kệ trong kinh này,vì người khác mà giảng nói, phước này hơn hẳn phước bố thí kia.

“Vì sao vậy? Hết thảy chư Phật và giáo pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của các ngài đều từ nơi kinh này mà ra.

“Tu-bồ-đề! Vì vậy mà nói rằng: pháp Phật tức chẳng phải là pháp Phật.

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Vị Tu-đà-hoàn có được khởi niệm: ‘Ta được quả Tu-đà-hoàn’ chăng?”

Tu-bồ-đề thưa: “Bạch Thế Tôn, chẳng thể được. Vì sao vậy? Tu-đà-hoàn gọi là nhập vào dòng, nhưng thật không có chỗ nhập. Chẳng nhập vào hình sắc, âm thanh, hương thơm, mùi vị, cảm xúc, pháp tướng, nên mới gọi là Tu-đà-hoàn.”

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Vị Tư-đà-hàm có được khởi niệm: ‘Ta được quả Tư-đà-hàm’ chăng?”

Tu-bồ-đề thưa: “Bạch Thế Tôn, chẳng được. Vì sao vậy? Tư-đà-hàm gọi là một lần trở lại, nhưng thật không có trở lại, nên mới gọi là Tư-đà-hàm.”

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Vị A-na-hàm có được khởi niệm: ‘Ta được quả A-na-hàm’ chăng?”

Tu-bồ-đề thưa: “Bạch Thế Tôn, chẳng được. Vì sao vậy? A-na-hàm gọi là không trở lại, nhưng thật chẳng phải là không trở lại, nên mới gọi là A-na-hàm.”

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Vị A-la-hán có được khởi niệm: ‘Ta được đạo A-la-hán’ chăng?

Tu-bồ-đề thưa: “Bạch Thế Tôn, chẳng được. Vì sao vậy? Thật không có pháp gọi là A-la-hán. Thế Tôn! Nếu vị A-la-hán khởi niệm rằng: ‘Ta được đạo A-la-hán’, tức là vướng mắc vào ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả.

“Thế Tôn! Phật bảo rằng con được phép Tam-muội Vô tranh cao quý nhất trong loài người, là bậc A-la-hán cao quý nhất lìa bỏ tham dục. Thế Tôn! Con chẳng khởi niệm này: ‘Ta là bậc A-la-hán lìa bỏ tham dục’.

“Bạch Thế Tôn! Nếu con khởi niệm này: ‘Ta được đạo A-la-hán’, Thế Tôn tất chẳng nói: ‘Tu-bồ-đề ưa thích hạnh A-lan-na.’ Vì con đây thật không vướng mắc ở chỗ làm, nên mới nói rằng: Tu-bồ-đề ưa thích hạnh A-lan-na.”

Phật bảo Tu-bồ-đề: “Ý ông nghĩ sao? Như Lai trước kia ở nơi Phật Nhiên Đăng có chỗ được pháp chăng?”

“Bạch Thế Tôn, không có. Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng thật không có chỗ được pháp.”

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Bồ Tát có trang nghiêm cõi Phật chăng?”

“Bạch Thế Tôn, không có. Vì sao vậy? Việc trang nghiêm cõi Phật đó, thật chẳng phải trang nghiêm nên gọi là trang nghiêm.”

“Tu-bồ-đề! Vì vậy mà các vị đại Bồ Tát nên sinh tâm thanh tịnh như thế này: ‘Chẳng nên trụ nơi hình sắc sinh tâm, chẳng nên trụ nơi âm thanh, hương thơm, mùi vị, cảm xúc, pháp tướng sinh tâm. Nên ở nơi không chỗ trụ mà sinh tâm.

“Tu-bồ-đề! Như người kia có thân hình như núi chúa Tu-di. Ý ông nghĩ sao? Thân ấy là lớn chăng?”

Tu-bồ-đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất lớn. Vì sao vậy? Phật thuyết chẳng phải thân, gọi là thân lớn.”

“Tu-bồ-đề! Như trong sông Hằng có bao nhiêu cát, mỗi hạt lại là một sông Hằng. Ý ông nghĩ sao? Số cát trong tất cả những sông Hằng ấy có nhiều chăng?”

Tu-bồ-đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều! Chỉ số sông Hằng như thế còn nhiều không kể xiết, huống chi là cát trong những con sông ấy!”

“Tu-bồ-đề! Nay ta dùng lời chân thật bảo cho ông biết. Như có những kẻ nam người nữ lòng lành, dùng bảy món báu để làm đầy cả số Tam thiên đại thiên thế giới nhiều như số cát của những sông Hằng ấy, rồi mang ra bố thí, được phước nhiều chăng?”

Tu-bồ-đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều.”

Phật bảo Tu-bồ-đề: “Nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, thọ trì dù chỉ bốn câu kệ trong kinh này, vì người khác giảng nói, phước đức này hơn cả phước đức bố thí kia!

“Lại nữa, Tu-bồ-đề! Theo như kinh này mà thuyết dạy, cho đến chỉ bốn câu kệ, nên biết là nơi ấy hết thảy thế gian, trời, người, a-tu-la đều nên cúng dường như tháp miếu Phật. Huống chi có người đem hết sức mà thọ trì, đọc tụng! Tu-bồ-đề! Nên biết là người này thành tựu được pháp cao quý bậc nhất ít có!

“Nếu kinh điển này ở tại nơi nào, tức như có Phật hoặc bậc đệ tử cao quý đáng tôn trọng ở đó.”

Lúc ấy Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Kinh này gọi tên là gì? Chúng con phải vâng giữ như thế nào?”

Phật bảo Tu-bồ-đề: “Kinh này gọi tên là Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật. Nên theo như tên kinh mà vâng giữ. Vì sao vậy? Tu-bồ-đề! Phật thuyết Bát-nhã Ba-la-mật tức chẳng phải Bát-nhã Ba-la-mật.

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có chỗ thuyết pháp chăng?”

Tu-bồ-đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, Như Lai không có chỗ thuyết pháp.”

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Số vi trầntrong Tam thiên đại thiên thế giới có nhiều chăng?”

Tu-bồ-đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều.”

“Tu-bồ-đề! Những vi trần ấy, Như Lai thuyết chẳng phải vi trần, gọi là vi trần. Như Lai thuyết thế giới chẳng phải thế giới, gọi là thế giới.

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể dùng ba mươi hai tướng để thấy Như Lai chăng?”

“Bạch Thế Tôn, chẳng thể được. Chẳng thể dùng ba mươi hai tướng để thấy Như Lai. Vì sao vậy? Như Lai thuyết ba mươi hai tướng tức chẳng phải tướng, gọi là ba mươi hai tướng.”

“Tu-bồ-đề! Nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, dùng thân mạng nhiều như số cát sông Hằng để bố thí. Lại có người thọ trì kinh này, cho đến chỉ bốn câu kệ, vì người khác giảng nói, phước ấy vượt hơn rất nhiều.”

Bấy giờ, Tu-bồ-đề nghe thuyết kinh này, hiểu sâu được nghĩa lý và ý hướng, cảm động đến rơi lệ, bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Thật ít có thay! Phật thuyết kinh điển này rất sâu xa, con từ khi đạt được mắt huệ cho đến nay chưa từng được nghe kinh nào như thế này.

  Sách Khải Huyền

“Bạch Thế Tôn! Nếu có người cũng được nghe kinh này, đem lòng tin tưởng trong sạch, liền khởi sinh tướng chân thật. Nên biết là người ấy thành tựu được công đức cao quý bậc nhất ít có.

“Bạch Thế Tôn! Tướng chân thật ấy tức là chẳng phải tướng, nên Như Lai gọi là tướng chân thật.

“Thế Tôn! Nay con được nghe kinh điển này, tin hiểu thọ trì chẳng lấy chi làm khó. Nhưng nếu năm trăm năm sau nữa có chúng sinh nào được nghe kinh này, tin hiểu thọ trì, người ấy quả là bậc nhất ít có. Vì sao vậy? Người ấy không có các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả.

“Vì sao vậy? Tướng ngã chẳng phải là tướng; tướng nhân, chúng sinh, thọ giả cũng chẳng phải là tướng. Vì sao vậy? Lìa hết thảy các tướng, gọi là chư Phật.”

Phật bảo Tu-bồ-đề: “Đúng vậy, đúng vậy! Nếu có người được nghe kinh này mà chẳng thấy kinh sợ hoảng hốt, nên biết người ấy rất là ít có.

“Vì sao vậy? Tu-bồ-đề! Như Lai dạy rằng bậc nhất Ba-la-mật, tức chẳng phải bậc nhất Ba-la-mật, gọi là bậc nhất Ba-la-mật.

“Tu-bồ-đề! Nhẫn nhục Ba-la-mật, Như Lai nói là chẳng phải nhẫn nhục Ba-la-mật.

“Vì sao vậy? Tu-bồ-đề! Như ta xưa kia bị vua Ca-lỵ cắt xẻo thân thể từng phần. Lúc bấy giờ, ta không có các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Vì sao vậy? Trong lúc ta bị cắt xẻo từng phần thân thể, nếu có các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, tất phải sinh lòng sân hận.

“Tu-bồ-đề! Lại nhớ đến quá khứ năm trăm đời trước, ta là một vị tiên nhẫn nhục. Lúc ấy ta cũng không có các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả.

“Bởi vậy, Tu-bồ-đề, Bồ Tát nên lìa hết thảy các tướng mà phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Chẳng nên trụ nơi hình sắc sinh tâm, chẳng nên trụ nơi âm thanh, hương thơm, mùi vị, cảm xúc, pháp tướng sinh tâm. Nên sinh tâm không có chỗ trụ. Nếu tâm có chỗ trụ tức là chẳng trụ.

“Vì thế Phật dạy các vị Bồ Tát chẳng nên trụ tâm nơi hình sắc mà bố thí. Tu-bồ-đề! Bồ Tát vì lợi ích cho tất cả chúng sinh, nên bố thí như vậy.

“Như Lai dạy rằng hết thảy các tướng tức chẳng phải tướng. Lại dạy rằng hết thảy chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh.

“Tu-bồ-đề! Lời nói của đấng Như Lai là chân chánh, đúng thật, như nghĩa, không hư dối, không sai khác.

“Tu-bồ-đề! Như Lai có chỗ được pháp, pháp ấy không thật không hư.

“Tu-bồ-đề! Nếu Bồ Tát trụ tâm nơi pháp làm việc bố thí, cũng như người vào chỗ tối, không thể nhìn thấy. Nếu Bồ Tát chẳng trụ tâm nơi pháp làm việc bố thí, như người có mắt, khi ánh sáng mặt trời chiếu soi thấy đủ các màu sắc.

“Tu-bồ-đề! Về sau nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, thường hay thọ trì đọc tụng kinh này, Như Lai dùng trí huệ Phật thấy biết những người này đều được thành tựu vô lượng vô biên công đức.

“Tu-bồ-đề! Nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, vừa lúc đầu ngày dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng mà bố thí, đến giữa ngày lại dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng mà bố thí, đến cuối ngày cũng lại dùng thân mạng nhiều như cát sông Hằng mà bố thí. Cứ như vậy trong vô lượng trăm ngàn ức kiếp, dùng thân mạng bố thí. Nếu có người nghe kinh điển này, trong lòng tin theo chẳng nghịch, được phước nhiều hơn cả những người dùng thân mạng bố thí kia. Huống chi là sao chép, thọ trì, đọc tụng, vì người khác giảng giải!

“Tu-bồ-đề! Nói tóm lại một lời quan trọng nhất: Kinh này có vô lượng vô biên công đức, chẳng thể suy lường. Như Lai vì người phát tâm Đại thừa mà thuyết dạy, vì người phát tâm Tối thượng thừa mà thuyết dạy. Nếu có người thường hay thọ trì, đọc tụng, rộng vì người khác mà thuyết giảng, Như Lai tất sẽ thấy biết những người này đều được thành tựu công đức vô lượng vô biên chẳng thể suy lường. Những người như vậy có thể đảm đương gánh vác đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của Như Lai.

“Vì sao vậy? Tu-bồ-đề! Nếu kẻ ưa pháp nhỏ, vướng mắc vào những kiến giải ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, tức chẳng thể thọ trì đọc tụng, vì người khác mà giảng giải kinh này.

“Tu-bồ-đề! Bất cứ nơi nào có kinh này, hết thảy thế gian, các hàng trời, người, a-tu-la đều nên cúng dường. Nên biết nơi ấy tức là tháp Phật, nên cung kính đi quanh lễ bái, dùng các thứ hương hoa rải lên nơi ấy.

“Lại nữa, Tu-bồ-đề! Những kẻ nam người nữ lòng lành, thọ trì đọc tụng kinh này, nếu bị người khác khinh chê, thì người trì kinh ấy dù cho đời trước đã tạo ác nghiệp lẽ ra phải đọa vào các đường dữ, nay nhân bị người khinh chê, ác nghiệp đời trước liền tiêu diệt, được thành tựu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Tu-bồ-đề! Ta nhớ thuở quá khứ vô lượng a-tăng-kỳ kiếp trước Phật Nhiên đăng, ta đã được gặp tám trăm lẻ bốn ngàn vạn ức na-do-tha đức Phật, và đều cung kính phụng sự không chút lỗi lầm. Nếu có người đời mạt pháp sau này thường thọ trì tụng đọc kinh này. Người ấy được công đức so với công đức cúng dường chư Phật của ta vượt hơn bội phần, trăm phần ta chẳng theo kịp một, ngàn vạn ức phần, cho đến tính toán, thí dụ cũng chẳng thể theo kịp được.

“Tu-bồ-đề! Những kẻ nam người nữ lòng lành vào đời mạt pháp thọ trì đọc tụng kinh này được nhiều công đức, nếu ta nói ra đầy đủ sẽ có người nghe qua sinh tâm cuồng loạn, nghi ngờ chẳng tin.

“Tu-bồ-đề! Nên biết rằng, nghĩa kinh này không thể nghĩ bàn, quả báo cũng không thể nghĩ bàn.

Bấy giờ, Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Những kẻ nam người nữ lòng lành phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên trụ tâm như thế nào? Hàng phục tâm như thế nào?”

Phật bảo Tu-bồ-đề: “Những kẻ nam người nữ lòng lành phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên khởi tâm như thế này: Ta nên diệt độ hết thảy chúng sinh; diệt độ hết thảy chúng sinh, nhưng thật không có chúng sinh nào diệt độ.

“Vì sao vậy? Tu-bồ-đề! Nếu Bồ Tát có các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, tức không phải Bồ Tát.

“Vì sao vậy? Tu-bồ-đề! Thật không có pháp phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng có được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng?”

“Bạch Thế Tôn, chẳng có. Như con hiểu theo nghĩa Phật thuyết, Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng trước kia không có được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”

Phật nói: “Đúng vậy, đúng vậy! Tu-bồ-đề, thật không có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Tu-bồ-đề! Nếu như có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Phật Nhiên Đăng hẳn đã không thọ ký cho ta: ‘Ông về sau sẽ thành Phật hiệu Thích-ca Mâu-ni.’ “Vì thật không có pháp được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho ta rằng: ‘Ông về sau sẽ thành Phật, hiệu Thích-ca Mâu-ni.’

“Vì sao vậy? Nói Như Lai đó, tức là nghĩa như của các pháp.

“Nếu có người nói: ‘Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.’ Tu-bồ-đề! Thật không có pháp Phật được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Tu-bồ-đề! Như Lai có chỗ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trong chỗ ấy không thật, không hư.

“Vì thế, Như Lai dạy rằng: Hết thảy các pháp đều là Phật pháp. “Tu-bồ-đề! Nói là hết thảy các pháp, tức chẳng phải pháp, vì thế gọi là hết thảy các pháp.

“Tu-bồ-đề! Ví như thân người dài lớn.”

Tu-bồ-đề nói: “Bạch Thế Tôn, Như Lai nói rằng thân người dài lớn tức chẳng phải là thân lớn, gọi là thân lớn.”

“Tu-bồ-đề! Bồ Tát cũng lại như vậy. Nếu nói rằng: ‘Ta đang độ cho vô lượng chúng sinh, tức chẳng gọi là Bồ Tát.’

“Vì sao vậy? Tu-bồ-đề! Thật không có pháp gọi là Bồ Tát. Vì thế Phật thuyết hết thảy các pháp đều không có các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả.

“Tu-bồ-đề! Nếu Bồ Tát nói rằng: ‘Ta đang làm trang nghiêm cõi Phật’, như vậy chẳng gọi là Bồ Tát. Vì sao vậy? Như Lai dạy rằng, trang nghiêm cõi Phật tức chẳng phải trang nghiêm, gọi là trang nghiêm.

“Tu-bồ-đề! Nếu Bồ Tát thông đạt pháp vô ngã, Như Lai gọi đó thật là Bồ Tát.

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có nhục nhãn chăng?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như Lai có nhục nhãn.”

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có thiên nhãn chăng?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như Lai có thiên nhãn.”

  Kinh phật

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có huệ nhãnchăng?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như Lai có huệ nhãn.”

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có pháp nhãnchăng?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như Lai có pháp nhãn.”

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai có Phật nhãn chăng?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như Lai có Phật nhãn.”

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Trong sông Hằng có cát, Phật nói đó là cát chăng?”

“Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Như Lai nói đó là cát.”

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Như trong một con sông Hằng có bao nhiêu cát, lại có số sông Hằng nhiều như số cát ấy, lại có số cõi Phật nhiều như số cát trong tất cả những con sông Hằng đó, như vậy là nhiều chăng?”

“Bạch Thế Tôn, rất nhiều!”

Phật bảo Tu-bồ-đề: “Hết thảy chúng sinh trong số cõi Phật nhiều như vậy, nếu khởi tâm suy nghĩ, Như Lai đều biết. Vì sao vậy? Như Lai dạy rằng, các tâm đều là không phải tâm, nên gọi là tâm.

“Vì sao như thế? Tu-bồ-đề! Tâm quá khứ chẳng thể nắm bắt. Tâm hiện tại chẳng thể nắm bắt. Tâm vị lai chẳng thể nắm bắt.

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Nếu có người dùng bảy món báu làm đầy cõi Tam thiên đại thiên thế giới rồi dùng để bố thí. Do nhân duyên ấy, được phước nhiều chăng?”

“Bạch Thế Tôn, quả đúng như vậy. Do nhân duyên bố thí, người ấy được phước rất nhiều.”

“Tu-bồ-đề! Nếu phước đức có thật, Như Lai chẳng nói là được nhiều phước đức. Vì phước đức không, nên Như Lai nói là được nhiều phước đức.

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể lấy sắc thân đầy đủ thấy đó là Phật chăng?”

“Bạch Thế Tôn, chẳng được. Chẳng nên lấy sắc thân đầy đủ thấy là Như Lai. Vì sao vậy? Như Lai dạy rằng, sắc thân đầy đủ tức chẳng phải sắc thân đầy đủ, gọi là sắc thân đầy đủ.”

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể dùng các tướng đầy đủ thấy là Như Lai chăng?”

“Bạch Thế Tôn, chẳng được. Chẳng nên dùng các tướng đầy đủ thấy là Như Lai. Vì sao vậy? Như Lai dạy rằng, các tướng đầy đủ tức chẳng phải đầy đủ, gọi là các tướng đầy đủ.”

“Tu-bồ-đề! Ông đừng cho rằng Như Lai có ý nghĩ này: ‘Ta đang có chỗ thuyết pháp’. Chớ nghĩ như thế. Vì sao vậy? Nếu ai nói rằng Như Lai có chỗ thuyết pháp, tức là hủy báng Phật, chẳng thể hiểu được chỗ ta thuyết dạy.

“Tu-bồ-đề! Người thuyết pháp đó, chẳng pháp nào có thể thuyết, gọi là thuyết pháp.”

Bấy giờ, ngài Huệ Mạng Tu-bồ-đề bạch Phật: “Thế Tôn! Liệu có chúng sinh nào ở đời vị lai nghe thuyết pháp này sinh lòng tin theo chăng?”

Phật dạy: “Tu-bồ-đề! Đó chẳng phải là chúng sinh, chẳng phải không là chúng sinh.

“Vì sao vậy? Tu-bồ-đề! Chúng sinh đó, Như Lai dạy rằng chẳng phải chúng sinh, gọi là chúng sinh.”

Tu-bồ-đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Phật được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là không có chỗ được sao?”

Phật nói: “Đúng vậy, đúng vậy! Tu-bồ-đề! Ta đối với quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chẳng có lấy một phần nhỏ pháp có thể được, nên gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Lại nữa, Tu-bồ-đề! Pháp này bình đẳng không có cao thấp, gọi tên là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trừ bỏ các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả mà tu hết thảy pháp lành, tức thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Tu-bồ-đề! Chỗ nói là pháp lành, Như Lai dạy rằng chẳng phải pháp lành, gọi là pháp lành.

“Tu-bồ-đề! Như trong cõi Tam thiên đại thiên thế giới có các núi chúa Tu-di, có người dùng bảy món báu tích tụ nhiều như các núi ấy mà bố thí. Lại có người lấy kinh Bát-nhã Ba-la-mật này, thậm chí chỉ bốn câu kệ, thọ trì, đọc tụng, vì người khác giảng nói. Phước đức của người bố thí so với người trì kinh thật trăm phần chẳng bì được một, trăm ngàn vạn ức phần, cho đến tính toán, thí dụ cũng chẳng thể theo kịp được.

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Các ông đừng cho rằng Như Lai có ý nghĩ này: ‘Ta đang độ chúng sinh’.

“Tu-bồ-đề! Chớ nghĩ như thế. Vì sao vậy? Thật không có chúng sinh nào được Như Lai độ! Nếu có chúng sinh được Như Lai độ, Như Lai tất có các tướng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả.

“Tu-bồ-đề! Như Lai dạy rằng có ngã, tức chẳng phải có ngã, nhưng phàm phu cho là có ngã.

“Tu-bồ-đề! Phàm phu đó, Như Lai dạy rằng chẳng phải phàm phu.

“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Có thể lấy ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai chăng?”

Tu-bồ-đề thưa: “Không thể được, Thế Tôn! Không thể lấy ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai.”

Phật bảo Tu-bồ-đề: “Nếu lấy ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai, vậy Chuyển Luân Thánh Vương tức là Như Lai.”

Tu-bồ-đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Theo như chỗ con hiểu nghĩa Phật thuyết dạy, chẳng nên lấy ba mươi hai tướng mà quán đó là Như Lai.”

Bấy giờ, đức Thế Tôn liền nói kệ rằng:

“Nếu dùng sắc thấy Ta,

Dùng âm thanh cầu Ta.

Là người hành tà đạo,

Chẳng thể thấy Như Lai.”

“Tu-bồ-đề! Nếu ông khởi ý nghĩ rằng: ‘Như Lai có thể dùng các tướng đầy đủ mà được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác’. Tu-bồ-đề! Chớ nghĩ như thế. Chớ nghĩ rằng Như Lai có thể dùng các tướng đầy đủ mà được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Tu-bồ-đề! Nếu ông khởi ý nghĩ rằng: ‘Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thuyết giảng tướng đoạn diệt của các pháp.’ Chớ nghĩ như thế. Vì sao vậy? Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đối với pháp chẳng thuyết tướng đoạn diệt.

“Tu-bồ-đề! Nếu Bồ Tát dùng bảy báu làm đầy số cõi thế giới nhiều như cát sông Hằng rồi mang ra bố thí. Lại có người hiểu biết hết thảy các pháp là vô ngã nên thành tựu được hạnh nhẫn nhục. Công đức của người này vượt hơn vị Bồ Tát làm việc bố thí.

“Vì sao vậy? Tu-bồ-đề! Là vì Bồ Tát chẳng thọ nhận phước đức.”

Tu-bồ-đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Thế nào là Bồ Tát chẳng thọ nhận phước đức?”

“Tu-bồ-đề! Bồ Tát có làm những việc phước đức đều chẳng nên tham trước, nên nói là chẳng thọ nhận phước đức.

“Tu-bồ-đề! Nếu có người nói: ‘Như Lai có đến, hoặc có đi, hoặc có ngồi, hoặc có nằm.’ Người ấy thật chẳng hiểu nghĩa ta thuyết dạy. Vì sao vậy? Như Lai đó, chẳng từ đâu mà đến, cũng chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai.

“Tu-bồ-đề! Nếu có những kẻ nam người nữ lòng lành, lấy cả cõi Tam thiên đại thiên thế giới nghiền nát thành vi trần. Ý ông nghĩ sao? Số vi trần ấy có nhiều chăng?”

Tu-bồ-đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Vì sao vậy? Nếu những vi trần này là thật có, Phật tất chẳng nói là vi trần. Vì sao thế? Phật dạy rằng các vi trần, tức chẳng phải vi trần, gọi là vi trần.

“Thế Tôn! Chỗ Như Lai nói Tam thiên đại thiên thế giới, tức chẳng phải thế giới, gọi là thế giới. Vì sao vậy? Nếu thế giới là có thật, tức là một tướng hòa hợp. Như Lai dạy rằng một tướng hòa hợp tức chẳng phải một tướng hòa hợp, gọi là một tướng hòa hợp.”

“Tu-bồ-đề! Một tướng hòa hợp tức là chẳng thể nói ra. Chỉ vì kẻ phàm phu tham chấp nơi sự việc.

“Tu-bồ-đề! Nếu có người nói rằng Phật thuyết dạy những kiến giải ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả. Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Người ấy có hiểu được nghĩa ta thuyết dạy chăng?”

“Bạch Thế Tôn, người ấy chẳng hiểu được nghĩa Như Lai thuyết dạy. Vì sao vậy? Thế Tôn dạy rằng những kiến giải ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả chẳng phải là những kiến giải ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, gọi là những kiến giải ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả.”

“Tu-bồ-đề! Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đối với hết thảy các pháp, nên thấy biết như thế này, tin hiểu như thế này, chẳng sinh khởi pháp tướng.

“Tu-bồ-đề! Chỗ nói là pháp tướng đó, Như Lai dạy rằng chẳng phải pháp tướng, gọi là pháp tướng.

“Tu-bồ-đề! Nếu có người dùng bảy món báu làm đầy khắp trong vô số a-tăng-kỳ thế giới rồi dùng mà bố thí, lại có những kẻ nam người nữ lòng lành phát tâm Bồ-đề, giữ làm theo kinh này, thậm chí chỉ bốn câu kệ, thọ trì đọc tụng, vì người khác giảng nói, phước đức này hơn cả phước bố thí kia!

“Thế nào là vì người giảng nói? Chẳng chấp giữ nơi tướng, như như chẳng động. Vì sao vậy?

“Hết thảy pháp hữu vi,
“Như mộng ảo, bọt nước,
“Như sương sa, điện chớp.
“Nên quán sát như vậy.”

Phật thuyết kinh này rồi, Trưởng lão Tu-bồ-đề cùng các vị tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, hết thảy thế gian, trời, người, a-tu-la, nghe Phật thuyết dạy đều hết sức hoan hỷ, tin nhận, vâng làm theo.

KINH KIM CANG BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT

Đọc thêm: http://tuyenphap.com/kinh-kim-cuong-1055#ixzz6E5CGJvpW

 

 

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC

CÓ THỂ BẠN THÍCH XEM

VĂN HÓA VIỆT NAM

TIN MỚI NHẤT

Cờ vua

Cờ vua là gì? Hướng dẫn cách chơi cờ vua cơ bản

Bên cạnh cờ vây, cờ tướng… cờ vua là một môn thể thao trí tuệ được rất nhiều người trên thế giới yêu thích. Trò chơi có tác dụng thư giãn nhẹ nhàng, tăng khả năng tư duy và phù hợp với mọi lứa tuổi.

Cờ vua là gì?

Cờ vua là một trò chơi giữa hai kỳ thủ sử dụng trí tuệ của mình kết hợp với chiến thuật hợp lý để đạt được mục đích cuối cùng là ăn quân Vua của đối phương. Bên cạnh đó, bạn cũng phải tìm cách bảo vệ quân Vua của mình không bị bắt. Để thực hiện được mục tiêu này, người chơi cần bắt càng nhiều quân đối phương càng tốt hoặc ngăn đối phương ăn quân của bên mình.

Mỗi quân cờ vua có phải đi theo đúng phương thức mà trò chơi đã quy định kèm theo vô vàn luật lệ mà những người mới chơi không thể thấy trước hay hiểu được lúc bắt đầu. Cho nên, các bạn hãy thật kiên nhẫn bởi càng chơi bạn sẽ nhận ra điểm thú vị đặc biệt của bộ môn này đó.

Giới thiệu về bàn cờ vua và quân cờ

Bàn cờ vua

Bàn cờ vua có hình vuông chia ra thành 64 ô vuông nhỏ gồm 32 ô trắng và 32 ô đen sắp xếp xen kẽ nhau. Các ô ngang được đánh dấu bằng chữ cái từ A đến H, ô dọc đánh dấu bằng số từ 1 đến 8.

Quân cờ

Các quân cờ có màu đen và màu trắng tương ứng với quân hai bên của người chơi. Mỗi quân cơ sẽ có cách phân biệt bằng tên và hình dáng với hướng di chuyển riêng. Cụ thể như sau:

  • Tốt: Mỗi bên sẽ có 8 quân tốt và đây là quân cờ cơ bản nhất trong cờ vua. Trong lần di chuyển đầu tiên, Tốt được quyền di chuyên lên phía trước 1 hoặc 2 ô. Nhưng những nước đi sau đó chỉ được tiến lên 1 ô. Quân này chỉ được tấn công các quân khác nếu nằm chéo về phía trước 1 ô và không thể đi lùi.
  • Xe: Xe trông giống như một tòa tháp trong lâu đài và mỗi bên có 2 quân Xe. Quân này được phép di chuyển ngang hoặc dọc với điều kiện không có quân cờ khác cản được đi tới vị trí mong muốn. Xe có thể tấn công và ăn quân khác nằm trên đường đi của nó.
  • Mã: Chúng ta không khó để nhận biết quân Mã bởi nó có biểu tượng hình con ngựa. Nước đi của quân Mã khá phức tạp. Mã đi theo hình chữ “L” tạo từ 2 ô ngang và 1 ô dọc hoặc 2 ô dọc và 1 ô ngang di chuyển theo mọi hướng tùy thích. Đặc biệt, Mã là quân cờ duy nhất có thể nhảy qua những quân khác. Nó chỉ có thể tấn công các quân khác nằm trong ô mà nó nhảy tới.
  • Tượng: Tượng có hình như chiếc mũ của giám mục Thiên Chúa Giáo. Ưu điểm của tượng chính là di chuyển theo đường chéo bao nhiêu ô tùy thích chỉ cần không bị quân cơ khác cản.
  • Hậu: Có thể nói, Hậu là quân cờ quyền lực nhất trên bàn cờ, thường có hình vương miện nữ tính hơn quân Vua. Quân Hậu có thể di chuyển ngang, dọc và chéo tùy ý và có thể tấn công theo mọi hướng.
  • Vua: Vua chỉ có thể di chuyển mỗi ô một nước theo mọi hướng và cách tấn công cũng tương tự như vậy. Đây cũng là quân cờ mà bằng mọi giá bạn phải bảo vệ, không thể để mất. Nếu mất quân cờ này đồng nghĩa với việc bạn sẽ thua cuộc.
  Tam thập lục kế

Cách sắp xếp bàn cờ vua

Sau khi đã nhận biết và làm quen với các quân cờ, bạn hãy sắp xếp chúng vào bàn cờ để có thể bắt đầu ván đấu. Đặt bàn cờ sao cho ô cuối cùng ở mỗi bên có màu trắng. Cách sắp xếp quân cờ như sau:

  • Đặt tất cả quân Tốt vào hàng thứ 2 ở trước mặt tạo nên một “bức tường” ngăn cách giữa các quân cờ khác của bên bạn và đối thủ.
  • Xếp quân Xe vào góc bàn cờ ở bên bạn.
  • Đặt mỗi quân Mã bên cạnh một quân Xe và quân Tượng nằm bên cạnh quân Mã.
  • Đặt quân Hậu vào 1 trong 2 ô còn lại ở hàng thứ nhất tùy vào màu của quân đó. Với quân Hậu đen thì đặt nó vào ô đen và quân Hậu trắng vào ô trắng.
  • Cuối cùng, bạn hãy đặt quân Vua vào ô còn lại. Sau đó, kiểm tra lại bố cục của các quân cờ bên đối phương có giống như vậy không. Hai quân Hậu và Vua ở hai bên phải đối diện nhau.

Luật chơi cờ vua cơ bản

  • Sau khi sắp xếp bàn cờ xong, hai kỳ thủ sẽ tiến hành di chuyển luân phiên các quân cờ theo hướng đi đã quy định ở phía trên khi đến lượt đánh của mình.
  • Mục tiêu cuối cùng của hai bên người chơi đó là ăn quân Vua của đối phương. Nước đi khiến quân Vua phải né, chạy trốn được gọi là “chiếu tướng”. Bên nào chặn được hết đường chạy của Vua thì sẽ thắng.
  • Trong trường hợp hai bên không còn thêm nước đi nào thì sẽ xử hòa.
  • Khi bạn di chuyển quân cờ tới ô khác mà ô đó đang có quân cờ ở phía đối thủ đứng thì người chơi có quyền ăn quân đó.
  6 cuốn 'thiên thư' thần bí

Trên đây là những thông tin cơ bản nhất về bộ môn cờ vua mà chúng tôi muốn gửi tới các bạn. Trong từng tình huống cụ thể, bạn phải linh hoạt nước đi của mình để ứng phó lại chiến thuật của đối phương, đồng thời phát triển các nước cờ của mình.

10 nguyên tắc trong khai cuộc cờ vua

Phát triển quân là nguyên tắc quan trọng nhất trong khai cuộc cờ vua, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề khác kỳ thủ cần dè chừng.

Ba nguyên tắc đầu tiên đều nhấn mạnh vào một điểm, đó là phát triển quân, theo video từ Chess.com. Bởi lời khuyên quan trọng bậc nhất trong cờ vua là tận dụng hết sức mạnh của các quân cờ.

Các nguyên tắc còn lại là đừng đi một quân hai lần trong khai cuộc, nhập thành sớm, đừng đưa hậu ra trận sớm, nghĩ tới mối đe dọa của đối phương, phát triển quân với một mục đích rõ ràng và liên kết hai xe.

Người mới học chơi cờ cần chú ý đến các nguyên tắc này, hiểu được mục đích của các khai cuộc. Còn những cao thủ sẽ ghi nhớ nhiều khai cuộc để ứng phó với đối phương, và giảm thời gian tính toán trong những nước đầu tiên. Theo Oxford Companion, có 1.327 khai cuộc đã được đặt tên và các biến thể của nó.

Nhưng không phải lúc nào cũng tuân thủ các nguyên tắc. Yếu tố tiên quyết là phân tích mối nguy hiểm từ nước đi mà đối thủ tạo ra. Nếu đối thủ mắc sai lầm, chúng ta có thể phá bỏ quy tắc để trừng phạt họ.

  Sách Khải Huyền

Đòn phối hợp nào mạnh nhất trong cờ vua?

Nước chiếu đôi được coi là chiến thuật mạnh nhất trong cờ vua, khi nó buộc vua đối thủ phải di chuyển.

Chiến thuật và chiến lược cờ vua
Video trên từ Chess.com nêu những chiến thuật và chiến lược cơ bản cho người chơi cờ sau khi học các nước đi. Chiến thuật chiếm 90% giá trị trong cờ vua, nhưng chiến lược lại là bàn đạp để phát hiện ra các đòn phối hợp.

Phổ biến nhất là đòn bắt đôi, tức là di chuyển một quân để cùng lúc tấn công ít nhất hai quân của đối thủ. Tuy nhiên, đòn này chỉ hiệu quả khi đối phương không bắt lại được quân ta.

Tiếp theo là đòn ghim. Sự lợi hại của đòn này là khi ta tấn công, quân đối thủ không thể hoặc không nên di chuyển vì sẽ mất quân quan trọng hơn. Ngược lại là đòn xiên. Đó là khi ta tấn công một quân giá trị, buộc đối thủ phải di chuyển để sau đó ta bắt quân khác.

Tuy nhiên, mạnh nhất vẫn là đòn chiếu đôi. Khi đó, hai quân ta cùng lúc chiếu vua đối phương. Không còn cách nào khác, đối phương phải chạy khỏi vị trí bị chiếu vì không thể cùng lúc che chắn cả hai đường chiếu hoặc tiêu diệt cả hai quân đang chiếu.

Súng trường tấn công AK-19 của Nga

Kalashnikov hy vọng AK-19 sẽ tạo được dấu ấn trên thị trường súng trường tấn công toàn cầu ở các nước đang phát triển nhằm lấn át các nhà sản xuất súng phương Tây.

Theo thông báo, Công ty sản xuất súng Kalashnikov trực thuộc Tập đoàn Nhà nước Rostec của Nga sẽ giới thiệu loại súng trường tấn công AK-19 5,56 mm mới nhất của mình tại triển lãm vũ khí lớn nhất Trung Đông – IDEX 2021.

Kalashnikov cho biết, dòng súng trường tấn công mới nhất của họ đã thu hút được sự quan tâm lớn của các khách hàng ở Trung Đông, những nước vẫn sử dụng loại đạn tiêu chuẩn 5,56 × 45 mm.

“Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm và nhiều bụi, AK-19 sẽ phát huy được hiệu quả sử dụng mọi thời điểm, bay ngày hay ban đêm, hoạt động đáng tin cậy và nhận được quy trình bảo trì chu đáo,” thông báo của Kalashnikov cho hay.

Dmitry Tarasov, Tổng giám đốc của Kalashnikov nói rằng công ty hy vọng biến thể mới của họ sẽ đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu.

“AK-19 sử dụng loại đạn 5,56 × 45 mm đã được NATO chấp thuận và sử dụng rộng rãi trên thế giới. Vì vậy, dòng súng trường tấn công mới nhất của chúng tôi được thiết kế để hướng đến thị trường nước ngoài”.

“Giới thiệu AK-19 tại triển lãm vũ khí quốc tế lớn nhất IDEX 2021, chúng tôi chắc chắn sẽ nhận được sự quan tâm lớn từ phía các khách hàng nước ngoài”.

  Sách Khải Huyền

Hãy quên AK-47 đi, súng trường tấn công AK-19 của Nga mới là “đẳng cấp”! – Ảnh 1.
AK-19 là một biến thể mới của AK-12, đã có mặt trong Lực lượng vũ trang Nga từ năm 2019.

Là biến thể súng trường tấn công hạng nhẹ được thiết kế dựa trên mẫu AK-12, chính thức biên chế cho các lực lượng vũ trang Nga kể từ năm 2019, AK-19 có báng súng gọn nhẹ với công thái học được cải tiến, trang bị một ống ngắm phía sau mới và một bộ hãm thanh tiên tiến, chiều dài nòng 415 mm và trọng lượng 3.350 gram.

Súng trường tấn công AK-19 sử dụng báng gấp trọng lượng nhẹ, thước ngắm cơ khí kiểu mới và loa che lửa có thể gắn nòng giảm thanh. AK-19 có dáng dấp hiện đại giống với các mẫu súng trường tấn công hàng đầu của phương Tây.

Mẫu súng AK-19 mới sở hữu tính năng tương tự như AK-12 với tầm bắn 440 m và ba chế độ bắn, gồm bắn phát một, bắn loạt hai viên và bắn liên thanh.

AK là dòng súng trường tấn công phổ biến hàng đầu thế giới, với khoảng 200 triệu khẩu đang được sử dụng. AK-47, phiên bản đầu tiên do tổng công trình sư Mikhail Kalashnikov thiết kế, đã được Hồng quân Liên Xô sử dụng từ năm 1949-1974.

Cho tới nay, Nga vẫn chưa mấy thành công với các phiên bản AK hậu Liên Xô vì vậy với việc cho ra mắt mẫu AK-19 mới, Nga hy vọng chúng sẽ tiếp tục viết tiếp những trang sử hào hùng của dòng AK huyền thoại.

  Võ kinh thất thư

Kalashnikov hy vọng AK-19 sẽ tạo được dấu ấn trên thị trường súng trường tấn công toàn cầu ở các nước đang phát triển nhằm lấn át các nhà sản xuất súng phương Tây.

Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi nhà sản xuất súng của Nga quyết định chọn IDEX, triển lãm quốc phòng hàng đầu ở Trung Đông để quảng bá cho sản phẩm cải tiến mới nhất của mình ra thị trường toàn cầu.

Chè shan tuyết cổ

Dù giá bán cao ngất ngưởng, loại chè này vẫn được nhiều người tìm kiếm, gần Tết mặt hàng này còn “cháy”, khách muốn mua đều phải đặt trước.

Loại chè đặc sản này được lấy từ cây chè shan tuyết cổ, có tuổi đời khoảng vài trăm năm. Theo chị Việt Hà – một nhân viên của cơ sở sản xuất chè Shan tuyết cố, cây chè này một năm thường ra búp vào 4 vụ nhưng chỉ có 2 vụ chính nhiều trà vào đầu năm. Cơ sở sản xuất chè Shan tuyết của chị sẽ thu mua tất cả các tháng trong năm nhưng chỉ bán vào dịp cuối năm.

“Vì số lượng chè Shan tuyết chưa đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước nên tôi chỉ bán để làm quà tặng, biếu vào dịp Tết. Dù vậy, loại chè này chưa năm nào có đủ để bán cho khách, mọi người chủ yếu đều phải đặt trước và ký kết hợp đồng mới có hàng”, chị cho hay.

Người dân phải trèo lên cây cao để hái chè.

Người dân thu hái rồi bán lại cho các cơ sở sản xuất chè.

Riêng năm nay, cơ sở sản xuất chè của chị Hà đã chuẩn bị khoảng 20 tấn phục vụ khách hàng trong dịp Tết này. Và công ty của chị cũng nhận được rất nhiều đơn đặt hàng từ các công ty, doanh nghiệp, cá nhân đặt làm quà tặng Tết cho đối tác, gia đình, nhân viên…

  Võ kinh thất thư

Theo đó, chè Shan tuyết cổ có nhiều phân khúc giá phục vụ khách hàng từ uống phổ thông hàng ngày, làm nguyên liệu pha chế đến sản phẩm cao cấp dành làm quà biếu tặng phục vụ cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Giá thấp nhất khoảng hơn 700.000 đồng/kg, cao nhất là trà sen giá khoảng 25 triệu đồng/kg. Và giá của các loại trà này đều giữ vững, không biến động nhiều qua nhiều năm.

Với mong muốn làm ra chè chất lượng nhất, cơ sở sản xuất chè của chị Hà thu mua tất cả lượng chè tươi của 2 vùng Tà Xùa (Sơn La) và Suối Giàng (Yên Bái). Vì hai vùng này sẽ làm ra chè có vị ngon nhất. Theo đó, người dân ở 2 vùng này đều được hướng dẫn cách thu hái để 100% sản lượng đạt tiêu chuẩn chế biến trà cao cấp. Ngoài ra, cơ sở sản xuất chè của chị còn hỗ trợ người dân mở rộng diện tích trồng chè Shan tuyết để có thể đáp ứng nhu cầu thị trường trong tương lai.

Chè Shan tuyết có cách làm riêng để giữ nguyên được hương vị đặc trưng của nó.

Trên thị trường, chè Shan tuyết có đủ 4 dòng của thế giới trà: Trà xanh, hồng trà, bạch trà và Trà ép bánh, với mỗi một dòng sẽ có quy trình chế biến khác nhau. Trong đó, trà ép thành bánh đòi hỏi kỹ thuật cao nhất và không phải ai cũng làm được.

  Sách Khải Huyền

Chị Hà cho biết trà shan tuyết cổ thụ tự nhiên có nội chất rất mạnh nên có thể pha được từ 10 đến 20 lần nước tùy theo dòng trà và dòng sản phẩm. Khi pha trà cần lưu ý không ngâm trà lâu quá 30 giây trong nước thì sẽ lấy được hương vị nội chất tinh tuý của trà.

Chè được ép thành bánh để bán cho khách hàng.

Dù giá chè cao, mặt hàng này vẫn không đủ cung cấp vào dịp Tết.

Theo tìm hiểu, đây là loại chè đặc sản Việt Nam có búp to màu trắng xám, dưới lá chè có phủ một lớp lông tơ mịn, trắng nên người dân gọi là chè tuyết. Chè Shan tuyết có mùi thơm dịu, nước vàng sánh màu mật ong. Chè được chế biến theo phương pháp thủ công của người dân tộc Tày, Mông, Dao.

Để hái chè, người dân phải trèo lên những cây chè cao, có độ tuổi lên đến vài trăm năm. Thông thường, cây chè này được canh tác hoàn toàn tự nhiên, không sử dụng bất cứhóa chất hay phân bón gì nên được xem là chè sạch. Và chúng có nhiều ở các tỉnh Hà Giang, Bắc Kạn, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái

Nhưng chè có vị ngon nhất ở Tà Xùa (Sơn La) hay Suối Giàng (Yên Bái). Nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng hàm lượng chất chống ung thư trong trà Shan Việt cao gấp 11 lần trà xanh tốt nhất của Nhật Bản.

  Tam thập lục kế

Tục xông đất

Người Việt tin rằng người xông đất có ảnh hưởng đến vận hạn cả năm của gia chủ, vì vậy từ tháng Chạp nhiều người đã chọn người xông đất Tết Tân Sửu 2021.

 Việc chọn người xông đất phù hợp với gia đình trong dịp đầu năm rất được coi trọng. Tùy theo từng năm, cần chọn người có tuổi, mệnh hợp với năm đó, và tương sinh với tuổi của mình, nghĩa là phải có thiên can, ngũ hành, địa chi tương hợp.

Bên cạnh đó, cần tránh đi các tuổi phạm vào tứ hành xung, được cho là sẽ đem lại điều không may cho gia chủ nếu xông đất đầu năm.

Tuổi xông đất năm Tân Sửu phù hợp nhất

Tuổi phù hợp nhất để xông đất Tết Tân Sửu 2021 gồm Quý Tỵ (1953), Đinh Dậu (1957), Nhâm Tý (1972), Đinh Tỵ (1977), Quý Dậu (1993), Bính Tý (1996).

Ngoài những tuổi xông đất rất tốt đó, có một số tuổi cũng có thể xông nhà, mở hàng tương đối tốt cho năm Tân Sửu là Bính Thân (1956), Canh Tý (1960), Nhâm Dần (1962), Quý Mão (1963), Ất Tỵ (1965), Bính Ngọ (1966), Kỷ Dậu (1969), Tân dậu (1981), Quý Hợi (1983), Giáp Tý (1984), Bính Dần (1986), Đinh Mão (1987), Kỷ Tỵ (1989), Nhâm Thân (1992).

Mọi gia đình đều có thể chọn một trong những tuổi này để xông đất Tết Tân Sửu, giúp cho năm mới suôn sẻ, “đầu xuôi đuôi lọt”.

Tuổi xông đất năm Tân Sửu phù hợp nhất là Quý Tỵ (1953), Đinh Dậu (1957), Nhâm Tý (1972), Đinh Tỵ (1977), Quý Dậu (1993), Bính Tý (1996).

Tuổi xông đất năm Tân Sửu 2021 theo mệnh là:

  • Chủ nhà mệnh Kim nên chọn người xông đất mệnh Thổ hoặc Kim.
  • Chủ nhà mệnh Mộc nên chọn người xông đất mệnh Thủy, Mộc.
  • Chủ nhà mệnh Thủy nên chọn người xông đất mệnh Kim là tốt nhất.
  • Chủ nhà mệnh Hỏa nên chọn người xông đất mệnh Mộc hoặc Hỏa.
  • Chủ nhà mệnh Thổ nên chọn nên chọn người xông đất mệnh Thổ, Hoả.
  Võ kinh thất thư

Dựa vào thiên can tương hợp, địa chi thuộc vào tam hợp (Dần – Ngọ và Tuất, Hợi – Mão và Mùi, Thân – Tý và Thìn, Tỵ – Dậu và Sửu), nhị hợp, lục hợp (Sửu và Tý, Dần và Hợi, Ngọ và Mùi, Mão và Tuất, Tỵ và Thân, Thìn và Dậu), bạn có thể lựa chọn người xông đất 2021 phù hợp.

Tránh chọn tuổi xông đất năm Tân Sửu thuộc tứ hành xung với chủ nhà. Cũng không nên chọn người xông có thiên can và địa chi xung phá đối với thiên can địa chi của năm, người có tang hoặc làm ăn thua lỗ, dù tuổi của họ phù hợp xông đất Tết Tân Sửu.

Ý nghĩa của tục xông đất đầu năm

Theo truyền thống, sau giao thừa, người nào bước vào nhà đầu tiên cùng với lời chúc mừng năm mới chính là người xông đất. Tục xông đất đã có từ rất lâu, xuất phát từ mong muốn về một năm mới an lành, thịnh vượng, tránh đi những xui xẻo trong năm cũ.

Ông bà ta tin rằng, người xông đất sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến vận hạn của gia chủ trong một năm. Nếu được người nào xởi lởi, hợp vía đến xông đất thì cả năm đó sẽ được tốt lành. Gặp người không hợp vía, hợp vận sẽ khiến cả năm khó khăn, không may mắn.

Người xông đất phải là người tốt vía, tính tình vui vẻ, khỏe mạnh, sự nghiệp thành công.

Tất nhiên đây chỉ là quan niệm dân gian. Ngày nay, trải qua bao thế hệ, người Việt vẫn giữ tục xông đất nhưng không còn khắt khe như xưa. Nhiều gia đình vẫn chú ý mời người hợp tuổi nhưng không còn quá đặt nặng chuyện hậu vận may rủi mà chỉ coi đây như một văn hóa ngày Tết, là niềm vui nho nhỏ mỗi dịp xuân về.

  Hoàng đế nội kinh

Nhiều gia đình không xem tuổi mà chỉ đơn giản là mời người họ yêu mến, tính tình vui vẻ, xởi lởi, toát ra năng lượng tích cực, gia đạo êm ấm… đến xông đất nhà mình. Một số gia đình thì để “tùy duyên”, ai đến xông đất cũng được đón tiếp vui vẻ.

Trên một phương diện nào đó, tục xông đất cũng mang ý nghĩa giúp con người thân thiết, gắn bó hơn và mang đến cho nhau những lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất.

Chọn người xông đất cho cơ quan, công ty

Ngày mở đầu công ty theo năm tuổi

Theo các chuyên gia phong thủy, ngày tốt nhất để khai trương, mở cửa hàng, công ty trong tháng 2 năm 2021 (tức tháng Giêng năm Tân Sửu Âm lịch) gồm các ngày:

  • 13/2 (2/1/2021 Âm lịch)
  • 19/2 (8/1/2021 Âm lịch)
  • 21/2 (10/1/2021 Âm lịch)
  • 23/2 (12/1/2021 Âm lịch)

Ngoài ra, nếu chủ doanh nghiệp cẩn thận hơn thì có thể chọn ngày lành mở hàng, mở công ty đầu năm theo tuổi, cụ thể bạn có thể tham khảo trong bảng dưới đây:

Tuổi Ngày đẹp theo Âm lịch Ngày đẹp theo Dương lịch
  • 2/1/2021 – Nhâm Thìn
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 13/2/2021
  • 19/2/2021
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Sửu
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Dần
  • 2/1/2021 – Nhâm Thìn
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 13/2/2021
  • 19/2/2021
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Mão
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 19/2/2021
  • 23/2/2021
Thìn
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Tỵ
  • 2/1/2021 – Nhâm Thìn
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 13/2/2021
  • 19/2/2021
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Ngọ
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 19/2/2021
  • 23/2/2021
Mùi
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Thân
  • 2/1/2021 – Nhâm Thìn
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 13/2/2021
  • 19/2/2021
  • 21/2/2021
Dậu
  • 2/1/2021 – Nhâm Thìn
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 13/2/2021
  • 23/2/2021
Tuất
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 19/2/2021
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Hợi
  • 2/1/2021 – Nhâm Thìn
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 13/2/2021
  • 19/2/2021
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
  Kinh Thánh

Người xông đất hợp với mệnh của lãnh đạo

Xét theo mệnh thì chọn người xông đất công ty phải có Ngũ hành tương sinh hoặc tương hợp với mệnh của lãnh đạo.

  • Lãnh đạo mệnh Kim: cùng mệnh hoặc mệnh Thổ, mệnh Thủy, tránh mệnh Mộc, mệnh Hỏa.
  • Lãnh đạo mệnh Mộc: cùng mệnh hoặc mệnh Thủy, mệnh Hỏa, tránh mệnh Kim, mệnh Thổ.
  • Lãnh đạo mệnh Thủy: cùng mệnh hoặc mệnh Kim, mệnh Mộc, tránh mệnh Thổ, mệnh Hỏa.
  • Lãnh đạo mệnh Hỏa: cùng mệnh hoặc mệnh Mộc, mệnh Thổ, tránh mệnh Thủy, mệnh Kim.
  • Lãnh đạo mệnh Thổ: cùng mệnh hoặc mệnh Kim, mệnh Hỏa, tránh mệnh Thủy, mệnh Mộc.

 

Người xông đất hợp với tuổi của lãnh đạo

Sau khi đã chọn tuổi xông đất theo Ngũ hành, chúng ta tiếp tục xét theo Thiên can để tìm ra người hợp tuổi nhất với lãnh đạo.

  • Lãnh đạo tuổi Tý: tuổi Thân, Thìn (Tam hợp), tuổi Sửu (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Sửu: tuổi Tỵ, Dậu (Tam hợp), Tý (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Dần: tuổi Ngọ, Tuất (Tam hợp), Hợi (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Mão: tuổi Mùi, Hợi (Tam hợp), Tuất (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Thìn: tuổi Tý, Thân (Tam hợp), Dậu (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Tỵ: tuổi Sửu, Dậu (Tam hợp), Thân (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Ngọ: tuổi Dần, Tuất (Tam hợp), Mùi (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Mùi: tuổi Mão, Hợi (Tam hợp), Ngọ (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Thân: tuổi Tý, Thìn (Tam hợp), Tỵ (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Dậu: tuổi Sửu, Tỵ (Tam hợp), Thìn (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Tuất: tuổi Dần, Ngọ (Tam hợp), Mão (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Hợi: tuổi Mão, Mùi (Tam hợp), Dần (Nhị hợp).

* Thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo.

https://coccoc.com/search?query=tu%E1%BB%95i%20x%C3%B4ng%20%C4%91%E1%BA%A5t&shared=1&share=horoscope

Súng trường tấn công SA-066 của Nga

Mẫu súng ‘kỳ phùng địch thủ’ của AK-74

SA-066 chính xác gấp rưỡi AK-74, song không được quân đội Liên Xô chọn lựa vì đi kèm nhiều yêu cầu về trình độ xạ thủ và bảo dưỡng.

Bộ tư lệnh quân đội Liên Xô vào thập niên 1970 tiến hành các cuộc thử nghiệm để tìm kiếm mẫu súng trường tấn công mới để thay thế dòng AK-47 vốn được biên chế từ năm 1948 và đã trở nên lạc hậu.

“Một số hạn chế của AK-47 là sử dụng đạn quá mạnh và độ rơ lớn, dẫn đến độ chính xác thấp, đặc biệt khi xạ thủ đứng bắn. Điều này không tốt khi đánh cận chiến hoặc tác chiến ẩn mình trong các tòa nhà”, một nguồn tin trong lực lượng thực thi pháp luật Nga cho biết.

Nhà máy Cơ khí Kovrov (KMZ) khi đó giới thiệu SA-006, mẫu súng suýt chút nữa đánh bại AK-74 của tổng công trình sư Mikhail Kalashnikov. SA-006 được trang bị hệ thống tự động cân bằng gồm hai bộ phận trượt ngược chiều nhau bên trong thân súng nhằm giảm độ giật của mỗi phát bắn tới 50%.

AEK-971, biến thể hiện đại hóa của SA-006. Ảnh: Vitaly Kuzmin.

“Trong các cuộc thử nghiệm, AK-74 và SA-006 đều chứng tỏ độ chính xác cao hơn nhiều AK-47 nhờ sử dụng đạn 5,45×39 mm”, tổng biên tập tạp chí Kho vũ khí của Tổ quốc Viktor Murahovsky nói.

“SA-006 có độ chính xác cao hơn 1,5 lần so với AK-74, mẫu súng sau này được chọn làm vũ khí tiêu chuẩn của quân nhân Liên Xô và Nga trong nhiều thập kỷ”, Murahovsky cho biết.

  Kinh phật

Một binh sĩ Nga khai hỏa súng AK-74. Ảnh: TASS.

Các chuyên gia nhận định lý do quân đội Liên Xô chọn AK-74 làm súng trường tấn công tiêu chuẩn do vũ khí này đơn giản và tương đồng với mẫu cũ. Điều này giúp các đơn vị công nghiệp quốc phòng Liên Xô dễ sản xuất các bộ phận và hộp tiếp đạn cho AK-74 do họ đã quen chế tạo AK-47 trong thời gian dài.

Ngoài ra, AK-74 được đánh giá phù hợp với mọi xạ thủ, từ tân binh cho tới lính chuyên nghiệp. “Nếu đưa SA-006 vào phát triển, nhiều thứ sẽ cần hiện đại hóa hoặc thay đổi và tốn kém rất nhiều tiền. Do AK-74 cho kết quả tốt, họ quyết định dừng lại ở đó”, Murahovsky nói.

Các bộ phận của AEK-971, biến thể hiện đại hóa của SA-006. Ảnh: Vitaly Kuzmin.

SA-006 sau đó được cải tiến và trở thành AEK-971, mẫu súng trường tấn công đang được một số đơn vị của Tổng cục An ninh Liên bang Nga (FSB) sử dụng.

“AEK-971 có độ giật thấp hơn AK-74. Mẫu súng này có tốc độ bắn tới 900 phát/phút, còn súng AK vào khoảng 600 phát/phút. AEK-971 tốt, song rất nhạy và chỉ phù hợp với những người lính đủ kinh nghiệm sử dụng súng”, nguồn tin trong lực lượng thực thi pháp luật Nga cho biết.

Nguồn tin cho biết một người lính ít được huấn luyện sẽ không biết cách tháo lắp lẫn bảo trì AEK-971 do mẫu súng này có nhiều bộ phận và đòi hỏi các công cụ đặc biệt hơn AK-74. “Bạn không thể ném AEK-971 vào đống cát rồi nhặt nó lên và bắn. Bạn cần biết phải làm gì với nó và cần thực hiện những thao tác nào”, nguồn tin cho biết.

Nguyễn Tiến (Theo RBTH)