16 C
hanoi
Thứ Tư, Tháng Ba 3, 2021

Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của đạo Công giáo chúng ta luôn thấy bóng dáng của các dòng tu với hai vai trò chính: thứ nhất góp phần quan trọng cho các hoạt động truyền giáo của Giáo hội, thứ hai các tu sĩ chính là hình mẫu về nếp sống đạo trong Giáo hội. Với vai trò đó chúng tôi xin được khái quát đôi nét về sự ra đời và phát triển dòng tu đạo Công giáo.

1- Dòng tu từ thời kỳ đầu hình thành đến Cộng đồng Vatican

– Thời kỳ hình thành

Đạo Kitô ra đời vào thế kỷ thứ I ở phía Đông đế quốc La Mã cổ đại, đến thế kỷ thứ IV (năm 313) Hoàng đế Constantino với sắc chỉ Milanô tuyên bố Kitô giáo là quốc đạo của đế quốc La Mã và dòng tu cũng manh nha xuất hiện từ những thế kỷ đầu. Trong số tín đồ đã có người không lập gia đình, đó là sự hiện diện của nam, nữ độc thân trong các cộng đoàn nhỏ; họ không có tài sản, họ không có sắc phục riêng hay cộng đoàn riêng, sống nhờ vào lòng hiếu khách của tín đồ. Họ quan niệm việc sống độc thân “trinh khiết” là một hồng ân “Sự trinh khiết được coi như hồng ân của Chúa ban, đưa con người vào cuộc sống của các thiên thần” (1). Họ vẫn sống giữa lòng xã hội, đi từ cộng đoàn này sang cộng đoàn khác để loan báo Tin Mừng, chuẩn bị cho các tân tòng lãnh nhận bí tích rửa tội, dạy dỗ các thiếu nữ về cách sống đạo, cũng như công tác từ thiện bác ái khác.

Vào thế kỷ thứ III – IV đời tu xuất hiện ngày một rõ nét hơn, đó là những giáo dân ao ước sống trọn lành, thực hiện những bài giảng trên núi với mục đích bắt chước cuộc đời Chúa Giêsu Kitô. Họ rời khỏi đô thị vào sa mạc hoặc lên những vùng sơn cước vào trong hang, trong cốc để trốn tránh thế gian, đi ở ấn. Những người được biết đến đầu tiên là thánh Antôn, Phaolo Tabe… Công việc hàng ngày của họ là: Đọc sách, cầu nguyện, thực hành nhân đức, làm việc thủ công để sinh sống, phạt xác với nhiều hình thức như thức đêm, ngủ ngồi, mỗi người ở một lều riêng và chẳng lệ thuộc vào một thứ kỷ luật tập thể nào. Ngày chủ nhật họ tìm tới nhà thờ để dự lễ và có dịp trao đổi thủ công nghệ và lương thực cần thiết. Hình thức ẩn tu, khổ tu, biệt tu hoặc công tu xuất hiện từ đấy, những vị ẩn tu được gọi là đan sĩ và họ chính là nguồn gốc của các đan viện và hình thức tu kín hay dòng chiêm niệm sau này.

Cùng với thời gian các đan sĩ tập trung lại với nhau thành những nhóm nhỏ và đời tu trở thành một nếp sống được Giáo hội nhìn nhận. Thánh Pacomiô (khoảng 290 – 346) là người thiết lập đan viện đầu tiên tại Tabennisi vào khoảng thế kỷ IV (320), ven bờ sông Nil ở miền Thượng Ai Cập và ông cũng đề ra bản luật đầu tiên mang tên Pacomiô. Gọi là lề luật vì nó ấn định những kỷ luật phải giữ khi đọc sách, làm việc, ăn uống và những lời khuyên về đường tiến đức. Đan viện có tường bao bọc, bên trong có phòng ăn, phòng nghỉ, phòng cầu nguyện chung, nơi làm việc. Đan viện chú trọng đến lời khấn vâng phục, đời sống cộng đồng và không áp dụng cuộc sống khổ hạnh. Đan viện lúc đấy như một gia đình, các đan sĩ phải sống và làm việc tập thể mang lại lợi ích công, chứ không hoạt động mang tính cá nhân. Cùng với việc thành lập các đan viện là các quy định cho đời sống tu trì được xác lập như: lao động tay chân, đọc kinh, phục tùng bề trên, đến cuối thế kỷ thứ IV các quy định được thể hiện cụ thể, rõ ràng với 3 tiêu chí “đức tuân phục, khiết tịnh và khó nghèo” (2), đây cũng là tiêu chuẩn xuyên suốt trong đời sống tu trì của Giáo hội Công giáo cho đến ngày nay mà người đề xướng là Thánh Basiliô (329 – 379). Chính những quy định đó cùng với cuộc sống đạo đức của các nhà tu hành đã nâng cao uy tín và sức hấp dẫn cho các tu viện nói riêng và đức tin đạo Kitô thời đấy nói chung. Mang lại hệ quả là không chỉ có giáo sĩ mà cả những người nông dân chất phát, khiêm tốn, trình độ học vấn thấp, nhiều người còn chưa biết đọc, biết viết cũng tìm đến sa mạc, vùng đất hoang vắng để tu. Do đó ngoài các đan viện được thành lập cho cuộc sống tu trì chung vẫn còn hình thức ẩn tu hoặc bán ẩn tu. Từ Ai cập đời sống đan tu lan sang Palestina, Syria, Tiểu á với nhân vật nổi tiếng là Basilio (… 379), tác giả của một bản luật mà ngày nay vẫn còn lưu giữ ở Giáo hội Đông Phương.

– Dòng tu phát triển sang Châu âu

Phong trào đan tu hình thành và phát triển ở phương Đông, nhưng cuối thế kỷ thứ IV đầu thế kỷ thứ V thì lắng xuống và chuyển sang phát triển ở phương Tây, nhờ những người hành hương Thánh địa mang về, cũng như những cuộc giao thương trong lòng đế quốc Roma thời đó. Những người có công nhập khẩu và phát triển đời sống đan tu ở châu Âu là những người như: Giêrônimô, Amrôsiô, Âu Tinh, Giêrônimô, Máctinô… Tại đây nhiều đan viện được thành lập: Đan viện Trèves, Đan viện Aquilea, Đan viện Ligugé, Tours. Bên phương Tây hình thức ẩn tu không thịnh hành mà áp dụng hình thức cộng đồng, các đan sĩ không vào sa mạc hay rừng vắng mà thực hiện lối sống đan tu ngay tại thành thị. Hình thức tu trì cũng không dừng lại ở việc cầu nguyện phạt xác mà bắt đầu mở rộng hoạt động, thể hiện ở 3 dạng:

– Chú trọng vấn đề giáo dục, các đan viện trở thành học viện như đan viện Vivarium ở Calabrio do Cassodor thiết lập (540).

– Chú trọng việc học hỏi Kinh thánh, tuân phục và tiết độ, lối tu này được thịnh hành ở Lerins (quần đảo nhỏ ở Pháp), lúc đó quần đảo này là nơi đào tạo các nhà thần học, giảng thuyết, lãnh đạo giáo hội.

– Chú trọng việc thờ phụng Thiên Chúa và thực hiện đức vâng phục. Lối tu này dựa theo lề luật của Thánh Benedicto (480 – 547) và được áp dụng ở nhiều nơi.

Trước đó các quy tắc ở các đan viện phụ thuộc phần lớn vào ý tưởng của viện phụ nên chưa có một lề luật chung, phù hợp cho cuộc sống tu trì. Thánh Biển Đức là người đã thu gom những tinh hoa của các bản luật trước đó (Pacomio, Basilio, Cassiano, Augustion) và dựa vào điều kiện địa lý, tâm lý xã hội của người phương Tây lúc bấy giờ để soạn ra lề luật chung cho cuộc sống tu trì. Ông lên án việc tu hành xác vì sẽ làm mất đi sức khoẻ người tu sĩ; ông cũng đưa ra những quy định cụ thể về: ăn uống, ngủ nghỉ, nơi ở, tu phục và đặc biệt ông quan tâm đến trình độ của tu sĩ “Thánh Biển Đức cũng buộc các tu sĩ phải biết đọc, biết viết, mỗi ngày ít nhất 3 hay 4 giờ đọc sách” (3). Theo ông bên cạnh các đan viện cần có trường học, bệnh viện, quán trọ. Đan viện phải như một gia đình mà trong đó các tu sĩ phải tuân phục người đứng đầu (viện phụ) và ngược lại người đứng đầu quan tâm đến tu sĩ như con cái. Sau một thời gian thử luyện đan sĩ tuyên hứa vĩnh cư (Stabilitas) (có nghĩa là sống suốt đời trong đan viện, chứ không đi lang thang từ dòng này qua dòng khác hay đi ẩn tu); cải hoán (con versatio morum) nghĩa là chấp nhận kỷ luật của đời sống cộng đồng; và vâng phục (obedientia) không chỉ là tuân giữ một bản luật mà vâng lời viện phụ như một nhà dìu dắt trên đường thiêng liêng, sự vâng lời giúp cho tu sĩ bắt chước gương Đức Kitô. Tuy nhiên phải đến thế kỷ IX các đan viện mới dần áp dụng luật Thánh Benedictô, có thể nói ở thời đó “những lề luật của Thánh Biển Đức là những định chế cho giới tu sĩ phương Tây và được Giáo hội đánh giá như một trợ lực do Chúa Quan Phòng dành cho Giáo hội Roma”(4). Bởi vì khi Giáo hội bị man dân xâm lăng chính tu sĩ Biển Đức ở khắp mọi nơi là những người vâng lời Giáo hoàng như là tuân phục các viện phụ, sự trung thành đó đã duy trì truyền thống của Giáo hội và giúp cho hoạt động của Giáo hoàng có hiệu quả hơn.

Thế kỷ VI, VII các dòng tu đẩy mạnh hoạt động truyền giáo sang một số nước Đức, Hà Lan và Pháp, tiêu biểu như Thánh Columban, Thánh Gregori. Dòng tu không những trở thành trung tâm đào tạo các nhà giảng thuyết, mà còn là nơi nghiên cứu Thánh khoa, sưu tầm và lưu giữ các tài liệu tôn giáo. Các cộng đoàn con cũng bắt đầu mọc lên ở nhiều nơi và kết quả của công cuộc truyền giáo đó là Kitô giáo có mặt ở khắp Tây Âu.

Bên cạnh đó các dòng tu còn tham gia cứu tế, làm từ thiện, mở rộng diện tích trồng trọt, gia tăng sản xuất. Chính nhờ công việc khai hoang mà nhiều dòng tu đã biến những vùng sình lầy hoang vu tại Pháp, Bỉ, Đức thành những cánh đồng phì nhiêu, nhiều thôn ấp trù mật mọc lên xung quanh các dòng. Nhiều đan viện giầu có như Lorsch, Fulda, Corbie ở Pháp, Saint – Gall ở Thuỵ Sĩ, có những bất động sản lớn.

– Dòng tu thời kỳ truyền giáo

Đến thế kỷ X dòng tu đã hình thành hệ thống, đời sống tu trì trở thành một định chế và ngày càng có nhiều hoạt động hữu ích cho Giáo hội, do đó các công đồng đã đặt dòng tu dưới quyền kiểm soát của Giám mục giáo phận. Cũng từ thế kỷ X Giáo hội tiến hành các cuộc thập tự chinh, mở rộng khu vực truyền giáo sang các nước, thì dòng hành khất và dòng hiệp sĩ ra đời vừa tham gia vào việc quân sự, vừa hoạt động bác ái xã hội, chăm sóc người bị thương, giáo dân hành hương. Một số dòng hành khất tiếp tục ra đời theo đuổi đường lối truyền giáo theo phương pháp thuần tuý thiêng liêng tức là bằng lời giảng và gương sáng.

Thời gian này phong trào cải cách dòng tu cũng diễn ra khắp nơi, nhằm khôi phục tinh thần nghèo khó, hãm mình. Thế kỷ X với sự cải tổ của Cluny các đan viện liên kết với nhau thành một đan viện mẹ và đặt dưới sự điều động trực tiếp của Toà thánh, không còn chịu sự kiểm soát của Giám mục, đó cũng chính là nguồn gốc của đặc ân “miễn trừ hay dòng thuộc quyền Toà thánh”. Cũng từ đó nhiều vị khi sáng lập dòng đã đích thân xin Toà thánh thành lập hay phê chuẩn, do vậy mà “Trong suốt thời Trung cổ Toà thánh dành quyền thiết lập và phê chuẩn các dòng tu” (5). Sang thế kỷ XI phong trào cải cách tiếp tục diễn ra và đan viện Xitô được thành lập 1089 được coi là trung tâm của phong trào. Thay vì tập trung quyền hành vào nhà mẹ, Xitô chủ trương sự tự trị của mỗi đan viện, các đan viện chỉ liên kết với nhau qua “Hiến chương bác ái” đấy là việc tuân giữ một lề luật chung, qua việc nhóm họp, gặp gỡ các viện phụ hàng năm tại các tổng hội để thảo luận những vấn đề chung.

  Thiên Chúa giáo

Thế kỷ XVI -XIX Giáo hội mở rộng công cuộc truyền giáo trên phạm vi rộng, một số dòng tu như dòng Tên, dòng Phanxicô và Đa Minh đã đi tiên phong trong hoạt động truyền giáo cho châu Á trong đó có Việt Nam, nên thế kỷ XIX được Giáo hội gọi là “thế kỷ thừa sai”, trong đó nổi bật vai trò của các dòng tu. Cũng tại các nước truyền giáo Giám mục giáo phận được phép thành lập dòng tu (dòng giáo phận). Ban đầu dưới hình thức những hiệp hội tín hữu, sau đó trở thành những hội dòng có lời khấn đơn và đến thời cận đại hầu như không còn dòng nào do Toà thánh thiết lập mà chỉ ban Nghị định phê chuẩn. Thời kỳ này dòng tu nữ cũng tham gia hoạt động tông đồ nhiều hơn và xuất hiện các tu đoàn sống chung không có lời khấn và các tu hội đời.

Đây cũng chính là giai đoạn mà công cuộc truyền giáo của giáo hội được xác lập ở khắp nơi, giáo hội ngày càng hoàn thiện về mặt tổ chức và không ngừng củng cố nhân sự. Giáo hội ngày càng đông linh mục, phó tế và hàng ngũ giáo lý viên tham gia vào công việc tông đồ. Do vậy, vai trò của các dòng tu trong lĩnh vực tông đồ giảm hẳn, các dòng tu trở lại cuộc sống tu trì như khởi đầu, sống xa lánh thế gian, giữ luật dòng và lao động, cách biệt với xã hội bên ngoài. Nhiều dòng tu ở châu Âu bị suy giảm mạnh về đức tin và ơn gọi.

2- Dòng tu sau Công đồng Vatican II

Việc các dòng tu trở về lối sống khép kín trong một thế giới luôn có sự vận động và phát triển đã làm cho giới tu sĩ thụ động, xa cách với cộng đồng xã hội, không thích nghi với đời sống bên ngoài và không phát huy được vai trò vốn dĩ như trước đây. Trước tình hình đó trong Công đồng Vantican II (1962 – 1965) giáo hội đã đặt ra vấn đề nhìn nhận lại vai trò của dòng tu cũng như việc canh tân dòng tu cho phù hợp với thời đại mới. Công đồng khẳng định dòng tu không phải là cầu nối giữa Giáo hội và giáo dân mà được xem như một thành phần trong cơ cấu giáo hội và tu sĩ dòng được xem như một phần dân Chúa. Sự quan tâm đến giới tu sĩ được Công đồng Vatican II thể hiện trong 2 văn kiện “Hiến chế tín lý về Hội thánh” và “Sắc lệnh về việc canh tân đời sống tu trì”. Với hai văn kiện này Giáo hội đã đưa dòng tu trở lại vị trí mà họ đã có và khẳng định vai trò của dòng tu trong giai đoạn phát triển mới của Giáo hội.

Từ đó các dòng tu bắt đầu canh tân, thích nghi theo hướng “nhập thế”, tham gia vào công việc tông đồ bằng chính các hoạt động xã hội. Các tu sĩ được học về thần học và các ngành khoa học khác, trình độ văn hoá, ngoại ngữ được nâng cao, nhiều người có bằng cao đẳng, đại học và trên đại học. Các dòng tu mở rộng hoạt động trong phạm vi rộng, ở nhiều cấp (quốc gia, quốc tế) với các lớp tu đức, hay hội nghị bàn về lĩnh vực chuyên biệt và không ngừng chú trọng đến vấn đề đào tạo tu sĩ. Điều kiện tuyển chọn được nâng cao nhất là trình độ văn hoá, đời sống tu trì ngày càng chú trọng đến chất lượng.

Theo số liệu thống kê của Giáo hội hoàn vũ năm 2010 trên thế giới có: 793.709 tu sĩ trong đó nam tu là 54.641 và nữ tu là 739.068 người (6). Các tu sĩ phục vụ không phân biệt về chủng tộc, ngôn ngữ, thể chế chính trị trong nhiều lĩnh vực như văn hoá, xã hội, tôn giáo, đặc biệt là lo cho người có hoàn cảnh khó khăn.

Có thể nói, quá trình hình thành và phát triển dòng tu gắn liền với lịch sử của đạo Công giáo và ở bất cứ giai đoạn nào dòng tu cũng luôn góp phần vào sự ổn định và phát triển của đạo./.

Ths. Lê Phương Liên

Tài liệu tham khảo

1- Phan Tấn Thành, Dân Thiên Chúa, Giải thích quyển III Giáo luật, tr 352..

2, 3, 4 – Lm Bùi Đức Sinh, Lịch sử Giáo hội Công giáo, Veritas Edition Calgary – Canada 1999, tr 239, 241, 243.

5- Phan Tấn Thành, Dân Thiên Chúa, Giải thích quyển II Giáo luật, tr 559.

6- Công giáo và Dân tộc, tháng11/2010.

  • Xem thêm:

Lối sống của người Công giáo Việt Nam: Quá trình từ theo đạo, giữ đạo đến sống đạo
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào trong cuộc sống cũng có quá trình sinh thành và phát triển. Lối sống của người Công giáo Việt Nam qua gần 500 năm truyền giáo cũng biến đổi với những cấp độ khác nhau. Trong bài viết này, chúng tôi muốn tìm hiểu lối sống của người Công giáo Việt Nam với quá trình từ theo đạo, giữ đạo đến sống đạo.

1- Muôn ngàn lý do theo đạo

Theo đạo hay còn gọi là đi đạo chính là hiện tượng một người được chịu phép Rửa (Bí tích Thanh tẩy- Sacrament of Purification) để gia nhập đạo Công giáo. Song cùng chỉ hiện tượng này, trong từng trường hợp cụ thể cũng có những tên gọi riêng. Trẻ em nhà có đạo đi chịu phép Rửa còn được gọi là “đi chịu đạo”. Còn người lớn bất kể không tôn giáo hay là tín đồ của tôn giáo khác thì gọi là “trở lại đạo”. Nhưng việc theo đạo Công giáo ở mỗi người lại có những lý do riêng.

Số khá đông người Công giáo Việt Nam theo đạo một cách thụ động vì gia nhập đạo nhưng chưa hề biết gì về đạo Công giáo bởi họ chỉ là những đứa trẻ mới sinh. Theo giáo luật, cha mẹ là người Công giáo phải lo liệu cho con được Rửa tội ngay những tuần đầu sau khi sinh (khoản 867). Số lượng trẻ em được Rửa tội bao giờ cũng chiếm đa số lượng người được chịu Bí tích này ở bất kỳ giáo xứ, giáo phận ở bất kể thời kỳ nào. Ví dụ ở địa phận Tây Đàng Ngoài năm 1790 số trẻ em được rửa tội là 3.224/3.913 người được rửa tội. Năm 1890 con số này là 28.708/ 34.734. Giáo phận Hà Nội năm 2004 có 4.375 trẻ em được rửa tội trong tổng số 5.385 người chịu phép này. Còn cả nước số liệu năm 2004 là 111.730 trẻ em trên tổng số 141.043 người nhận Bí tích Thanh tẩy. Có không ít trẻ em khi mắc bệnh nặng gần hấp hối cũng được rửa tội. Lịch sử giáo hội ghi lại nhiều trường hợp như năm 1585, dưới thời nhà Mạc, linh mục Bartolome Ruiz sau gần một năm ở Việt Nam cũng chỉ rửa tội cho một em nhỏ gần chết. Năm 1626, giáo sĩ J. Baldinotti người Italia sang Thăng Long, sau 6 tháng phải quay về Ma Cao vì không biết tiếng Việt và chỉ rửa tội được cho 4 đứa trẻ hấp hối. Một báo cáo của Giáo hội Công giáo Việt Nam cho biết từ năm 1902 đến 1944 số người xin làm phép Rửa để trở lại đạo Công giáo là 62.584 người thì số trẻ em sắp chết được làm phép Rửa cũng tương đương là 62.692 em (1).

Người ta vẫn thường nói “theo đạo, lấy gạo mà ăn”. Thật vậy, một lý do làm cho nhiều người theo đạo là lý do kinh tế. Chính do cuộc sống khó khăn , cơ hàn mà nhiều người đã dễ dàng đến với đạo Công giáo. GS Trần Quốc Vượng đã nhận xét: “Nhưng thoạt đầu kỳ thuỷ, đạo Thiên Chúa được truyền bá vào Việt Nam thì nó lại được sự hưởng ứng trước hết của những người nghèo, trước hết là dân chài, những người bị gạt ra ngoài lề của xã hội quân chủ Nho giáo và những người bình dân nghèo khổ”(2).

Việt Nam thường xuyên bị bão lụt, hạn hán đe doạ nhưng cứ sau mỗi thiên tai, đạo Công giáo lại có cơ hội có thêm nhiều tân tòng. Thừa sai Panis ở Qủang Nam đã viết báo cáo gửi về Bề trên ngày 7/3/1879 như sau: “Dân chúng sẽ sống ra sao? Sau lụt, bây giờ là nạn đói…Giáo hội ban phát một vài của bố thí và rao giảng về Đức Giêsu Kitô là Đấng cứu chuộc thế giới; Trong lúc xoa dịu thể xác, giáo hội có thêm một số linh hồn.. Chỉ riêng tôi, từ tháng 12/1879 đã làm phép Rửa được cho 78 dự tòng. Nếu tôi có gạo để cho người ta ăn trong lúc học đạo, thì tôi còn có nhiều trăm người nữa”(3). Giám mục Galibert cũng viết trong phúc trình ngày 25/7/1880: “ Phong trào nhập đạo bắt đầu từ nạn đói vẫn tiếp tục và không ngừng gia tăng. Thừa sai Geoffroy, năm vừa qua bị thử thách và bách hại nặng nề do các quan tỉnh Khánh Hoà, vừa cho tôi biết rằng hy vọng là sẽ có 400 tân tòng trong năm 1880.. Một linh mục bản quốc, cha Mão, cũng viết cho tôi rằng: con đã làm phép Rửa được cho 300 người lớn, ba làng ngoại xin cho các thày giảng tới dạy đạo bởi vì có nhiều người dân trong làng xin theo đạo. Nếu Đức cha cho con tiền bạc và thêm một vài thày giảng, con có thể hứa với Đức cha là sẽ có 600 người lớn chịu phép Rửa trong năm 1880”(4).

Người Kinh đã thế, người dân tộc càng thế. Tại Lạng Sơn- Cao Bằng, Đức thày phủ doãn tông toà đầu tiên của giáo phận này là Cothonay nhận xét: “Cho tới nay, các dân tộc miền núi của chúng ta vẫn tỏ ra rất kháng cự với việc loan báo Tin mừng. Phương pháp tốt nhất để có người theo đạo là tập hợp những người nghèo khổ và cho họ sinh sống trên đất đai của chúng ta. Nhưng phải làm nhà cho họ, cho họ công cụ lao động như giống má, trâu bò, cày bừa vv… và giúp cho họ ăn tới vụ mùa. Đó là một phương thức truyền giáo tốn kém, nhưng nếu muốn gia tăng đoàn chiên, chúng tôi phải làm như thế tuỳ theo phương tiện chúng tôi có”(5).

  Trúc Lâm Tam Tổ

Hôn nhân cũng là một lý do để nhiều thanh niên theo đạo Công giáo. Ai cũng biết rằng nạn thê thiếp đã gây ra bao nỗi khổ đau cho người phụ nữ khiến thi sĩ Hồ Xuân Hương phải thốt lên: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung”. Trong khi đó, đạo Công giáo chủ trương “nhất phu, nhất phụ”. Đây là điều hấp dẫn với nhiều người trước khi lập gia đình. Tuy nhiên, trước đây, giáo hội không cho kết hôn với người khác đạo nên cũng buộc nhiều thanh niên phải trở lại đạo. Sau Công đồng Vaticano II, giáo hội cởi mở hơn, cho phép người Công giáo kết hôn với người khác tôn giáo nhưng số người trở lại đạo vì lý do hôn nhân vẫn đông. Theo số liệu của Giáo hội công bố năm 2006, số lượng người theo đạo để kết hôn với người Công giáo là 31.576, chiếm 1/5 số người gia nhập đạo cả nước.

Vấn đề chính trị, xã hội cũng ảnh hưởng tới việc một số người theo đạo. Người ta thấy số người xin gia nhập đạo vào những năm 1930-1931 gia tăng hơn 2000 người mỗi năm, đông nhất là vùng Nghệ Tĩnh. Tìm hiểu ra mới rõ, là do phong trào Việt Minh bắt đầu nhen nhóm ở đây và chính quyền thực dân thẳng tay đàn áp. Để yên ổn làm ăn, người dân thấy cách an toàn nhất là gia nhập đạo Công giáo vì người Công giáo được chính quyền tin tưởng, che chở hơn. Giám mục Tardieu năm 1931 đã có báo cáo về Roma như sau: “Thử thách cuối cùng theo một dạng đe doạ mới đó là chủ nghĩa cộng sản, đến từ Matxcova qua Trung Quốc đã len lỏi vào Trung Kỳ và gây tai hoạ khắp nơi, nhiều hay ít tuỳ theo hoạt động của phong trào mạnh hay yếu… đã không ngăn cản người ta theo Công giáo, ngược lại đã làm cho người ta theo Công giáo nhiều hơn”(6). Cuộc di cư năm 1954 không chỉ làm cho hàng triệu người Công giáo từ miền Bắc vào miền Nam mà còn làm cho nhiều người theo đạo dưới các chế độ thân Công giáo ở Sài Gòn. Địa phận Quy Nhơn năm 1956 có 16.323 người xin rửa tội, năm 1959 tăng lên 27.385 và năm 1960 là 37.429 người. Giám mục Ngô Đình Thục ở Huế cũng nói: “Có những làng nguyên vẹn xin chịu phép Rửa. Người ta không làm sao dạy giáo lý kịp cho họ”(7). Cũng dễ hiểu thôi vì chính quyền Sài Gòn lúc này đang “Công giáo hoá”: 30% dân biểu là người Công giáo, 23/32 tỉnh trưởng, 4/12 bộ trưởng, 3/16 tướng lĩnh là người Công giáo.

Sau sự kiện đạo Vàng Chứ bị cấm ở khu vực miền núi phía Bắc những năm 80- 90 của thế kỷ trước, nhiều tín đồ đã vào Tây Nguyên sinh sống và sau đó đã gia nhập đạo Công giáo làm cho số giáo dân ở đây tăng mạnh. Trước năm 1975, Tây Nguyên chưa đầy 13 vạn giáo dân, năm 2005 tăng lên hơn 30 vạn. giáo phận Kon Tum tỷ lệ tăng trưởng bình quân là 17,4%, năm 1988 tăng 137,7%. Tỉnh Gia Lai từ 1995 đến 2001 tăng 475%.

Hoạt động từ thiện, bác ái của đạo Công giáo cũng thu phục không ít người đến với đạo. Những làng phong cùi với sự phục vụ tận tuỵ của các nữ tu đã làm cho nhiều bệnh nhân và bác sĩ cảm phục trở lại Công giáo như ở trại phong Quy Hoà. Trong số 445 trại viên năm 1937 có tới 306 người Công giáo. Có năm 70 bệnh nhân xin làm phép Rửa. Một linh mục ở Nha Trang mở phòng khám từ thiện từ năm 2001, mỗi ngày cũng có 2-3 người xin trở lại đạo.

Phương pháp giảng thuyết hấp dẫn, đạo có nhiều điều mới lạ nên đã làm cho cả những bậc thức giả trong triều đình, nho gia, những nhà sư và cả những người trong hoàng tộc nhà vua cũng đi theo đạo ngay từ buổi đầu tôn giáo này du nhập vào Việt Nam như công chúa Mai Hoa, em gái cúa Trịnh Tráng…

Trên đây là những lý do phổ biến làm cho người ta theo đạo, trở lại đạo. Còn với mỗi người thường lại có những lý do riêng nữa.

Nhà thờ Hàm Long

2- Giữ đạo là tuyên xưng đức tin

Nếu theo đạo chỉ hiện tượng một người được nhận phép Rửa để gia nhập Công giáo để trở thành tín hữu thì giữ đạo nói về cuộc sống của người tín hữu từ khi được rửa tội cho đến khi chết. Có thể chỉ ra quá trình xuyên suốt của người tín hữu khi giữ đạo là tuyên xưng đức tin của mình ra cho mọi người biết. Vì vậy giữ đạo đòi hỏi khó khăn, hy sinh hơn. Nếu Rửa tội là điều kiện cần thì giữ đạo nên mới là điều kiện đủ để được cứu rỗi.

Người tín hữu thể hiện niềm tin của mình bằng cách đeo ảnh tượng, tràng hạt như là dấu hiệu của người có đạo. Tại nhà riêng thì lập bàn thờ trang trọng theo khả năng kinh tế của gia đình. Nhà nào khá giả còn đắp tượng Chúa, Đức Mẹ giữa sân, trên tường nhà. Cứ có một số gia đình Công giáo là người ta lo làm nhà thờ, càng to càng tốt. Bởi vậy chỉ cần nhìn những dấu hiệu này cũng biết ai, gia đình nào, làng nào theo đạo Công giáo. Ngay từ buổi đầu truyền giáo ở Đàng Ngoài, người ta đã nhận thấy: “Bổn đạo siêng năng đọc kinh chung sáng tối trong gia đình, không bao giờ bỏ việc đọc kinh như thế, trừ khi quá bận rộn và vì những công việc đã hứa hẹn. Vì thế gia đình nào cũng có bàn thờ được trang trí bằng những thứ quý nhất tuỳ theo khả năng của họ. Bổn đạo sẵn sàng bớt một vài món cần thiết cho cái ăn, cái mặc hơn là chịu thiếu bàn thờ”(8).

Trong ba nhân đức tu luyện của người Công giáo thì nhân đức tin là quan trọng nhất. Nhưng “ đức tin không có việc làm là đức tin chết” nên thể hiện niềm tin theo đạo, trước hết là giữ luật đạo. Luật đạo thì mênh mông nào là “10 điều răn”, “6 điều răn”, “8 mối phúc”, “7 mối tội đầu”, “ thương người 14 mối”…nhưng tóm lại rất gọn là “mến Chúa, yêu người”. Những người được gọi là “sùng đạo” là những người siêng năng đi lễ nhà thờ sáng tối, xưng tội, rước lễ thường xuyên, đọc kinh hàng ngày và có lòng bác ái, thương người nghèo khó.

Không ít người nhận xét rằng, người Công giáo Việt Nam giữ đạo quá sốt sắng, nhiệt thành so với thế giới. Một bản điều tra của Viện Nghiên cứu tôn giáo năm 1992 cho biết số tín hữu đi lễ thường xuyên tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh từ 56,4 đến 96,3%, rước lễ thường xuyên từ 56 đến 94%. Trong khi đó ngay tại Roma- kinh đô của Giáo hội Công giáo cũng chỉ có 15-20% giáo dân đi lễ thường xuyên. Tôn giáo cũng trở thành nhu cầu cần thiết cho rất nhiều tín đồ. 71% trí thức Công giáo ở thành phố Hồ Chí Minh và 84,6% người Công giáo Hà Nội đã khẳng định như vậy. Trong khi đó chỉ có 59% ở Italia, 34% ở Pháp và 28% ở Đức cho tôn giáo là cần thiết trong đời sống(9).

Người Việt Nam sống thiên về tình cảm nên cách giữ đạo cũng ưa ồn ào, náo nhiệt. Một nhà nghiên cứu và cũng là linh mục Công giáo nhiều năm làm việc ở nước ngoài là GS.VS Trần Tam Tỉnh nhận xét: “Dân chúng Công giáo Việt Nam thiết tưởng là quần chúng mộ đạo nhất thế giới. Hàng ngày họ đi dự kinh lễ sớm chiều rất đông và thích rước kiệu, làm tuần tam nhật và nhiều việc đạo đức sùng kính khác, không những vào ngày chủ nhật mà cả các ngày trong tuần. Tại các họ đạo nông thôn, kinh lễ buổi mai kéo dài 2-3 giờ, cuộc rước lâu cả buổi”(10). Những biểu hiện sinh hoạt tôn giáo sầm uất này vẫn giữ đến ngày nay nhất là khi đón tiếp các đấng bậc “nhân danh Chúa mà đến”.

Do để thuận tiện giữ đạo nên người Công giáo cũng hay co cụm lại thành làng riêng lấy nhà thờ làm biểu tượng của làng, lấy tiếng chuông nhà thờ làm đồng hồ báo thức, lấy ngày lễ làm lịch cấy trồng như: “Lễ các Thánh gánh mạ đi gieo, lễ sinh nhật giật mạ đi cấy hay lễ Rosa thì tra hạt bí, lễ các Thánh thì đánh bí ra…”, lấy lễ hội Công giáo làm lịch năm, tháng. Họ kết hôn, giao du với người đồng đạo. Nếu đi đâu vì một biến cố chính trị, xã hội nào đó thì đi cả làng và tại nơi ở mới, họ vẫn giữ tên làng Công giáo cũ. Tại những làng kinh tế mới vùng biển Nghĩa Hưng, Nam Định có những làng Công giáo như Bùi Chu, Ngọc Cục, Kiên Lao còn ở miền Nam sau di cư năm 1954 có Hà Nội, Bùi Phát, Thái Bình và ở Hoa Kỳ bây giờ cũng có nhà thờ La Vang…

Biểu hiện ở mức độ cao nhất của đức tin tôn giáo là sẵn sàng “chết vì đạo”. Do những điều kiện lịch sử khắc nghiệt nên ở Việt Nam cũng đã chứng kiến được nhiều người Công giáo sẵn sàng đổi mạng sống để giữ niềm tin. Trong thời nhà Nguyễn, không ít quan lại khi thi hành lệnh cấm đạo cũng muốn nương nhẹ với người làng nên chỉ bắt làm hình thức như bước vòng quanh Thánh giá thay vì bước qua nhưng có người cũng không chịu. Có nhà cả cha mẹ, con cái đều tranh nhau chịu tử hình với thái độ vui mừng. Một điều lạ là không có ai ra pháp trường vì đức tin mà lại chửi bới vua quan. Trái lại họ còn cám ơn vua quan đã cho họ có cơ hội được làm thánh. Giáo hội Công giáo đã tôn phong 118 thánh tử đạo, 1 vị chân phước và nhiều chứng nhân đang được lập hồ sơ. Điều đó chứng tỏ, người Công giáo Việt Nam không sợ hy sinh để minh chứng niềm tin.

Bác ái là một yêu cầu của người có đạo nên ngay từ buổi sơ khai, người dân kinh thành Thăng Long đã gọi những người theo Công giáo là “đạo của những người yêu nhau”. Họ lập ra những nhà thương để săn sóc người bệnh tật, giúp đỡ kẻ lang thang, mồ côi, chôn xác người chết. Bởi vậy, không ngạc nhiên khi hầu hết các trại phong cùi ở Việt Nam đều do Công giáo thành lập và phục vụ. Những tấm gương như nữ tu Nguyễn Thị Mậu với hơn 40 năm phục vụ bệnh nhân phong ở Di Linh (đã được Nhà nước phong anh hùng lao động năm 2006), anh Tống Phước Phúc – một thợ xây nghèo đã thu gom và mai táng chu tất cho cả chục ngàn thai nhi ở Nha Trang (đã được Chủ tịch nước gửi thư khen năm 2008) …cũng không phải là cá biệt.

  Nhiên Đăng Cổ Phật

Truyền giáo là một căn tính của đạo Công giáo vì thế những người có đạo cũng tích cực khuyên bảo làm cho người khác cũng theo đạo giống mình. Họ đi làm từ thiện, chăm sóc người ốm đau, giúp đỡ kẻ đau khổ…nhằm chứng minh đạo Công giáo họ đang theo là tốt lành. A. Rhodes đã kể lại việc làm đám tang trọng thể cho một người lính ở làng No năm 1627 : “Chúng tôi làm đám tang hết sức linh đình và trọng thể, có tất cả người Bồ chỉnh tề tham dự cùng các giáo dân tân tòng. Việc này chúng tôi làm công khai cho tất cả lương dân trông thấy, không những họ cảm phục về bác ái người giáo dân mà còn xúc động về tinh thần của đạo ta”(11).

Để truyền giáo hiệu qủa, người ta cũng sáng tạo ra vô vàn phương cách từ chuyển Kinh thánh ra văn vần, diễn tuồng, latinh hoá tiếng Việt, làm báo, xây cô nhi viện, nhà dưỡng lão, Việt hoá đạo cho gần gũi với người Việt…

Như vậy có thể nói giữ đạo là đòi buộc cho tất cả mọi tín hữu mọi thời đại chứ không phải chỉ là lối sống đạo của người Công giáo buổi sơ khai hay trước công đồng Vaticano II. Tuy nhiên, đạo Công giáo cũng luôn canh tân để theo kịp thời đại vì vậy lối sống của tín hữu phải được nâng lên tầm cao mới đó là sống đạo.

3- Sống đạo là dấn thân để phục vụ cộng đồng và xã hội

Nếu nói sống đạo là lối sống của người Công giáo thì bất kỳ người Công giáo ở nước nào, thời kỳ nào cũng đều có sống đạo. Giữ đạo là một cách sống đạo. Nhưng đây là kiểu sống đạo hướng nội, thiên về luân lý, phụng tự để “cứu rỗi” chính bản thân người tín hữu và nếu có quan hệ với bên ngoài cũng là để làm cho người khác biết đến đạo Công giáo mà thôi. Lối sống đạo “tiền công đồng” này không chỉ phổ biến ở Việt Nam mà trên toàn thế giới.

Việc sống đạo có tính “xuất thế” như vậy làm cho đạo Công giáo ít gắn bó với đời sống xã hội và khó gần gũi với cộng đồng. Người Công giáo bị co cụm lại trong nhà thờ, chỉ chăm chú lo giữ linh hồn mình chứ không dấn thân phục vụ xã hội và cộng đồng. Giáo hội chú ý nhiều đến phụng tự, nghi lễ nên dễ rơi vào bệnh hình thức bên ngoài mà quên đào luyện nội tâm để “nhập thế”. Công đồng Vaticano II đã tìm ra căn bệnh của việc phân chia tách bạch đạo – đời, làm chia cách người Công giáo ra khỏi gia đình nhân loại và môi trường họ đang sống. Hiến chế Gaudium et Spes viết: “Sự phân ly giữa đức tin mà họ tuyên xưng và cuộc sống thường nhật của nhiều người phải kể vào số những sai lầm trầm trọng nhất của thời đại chúng ta” ( số 43).

Do trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử nên quan hệ đạo – đời của Công giáo cũng đi qua nhiều cung bậc. Có lúc lên án, loại trừ, có lúc bị thao túng, lợi dụng xã hội trần thế. Trần gian được coi là biển khổ lưu đầy, là đồng minh của tội lỗi. Người Công giáo luôn nguyện cầu để mau chóng vượt biển trần gian, thoát nơi sống gửi, sống tạm để về nơi vĩnh hằng. Lối sống đạo này đã làm cho đạo Công giáo bị mất nhiều thứ. Nhà thần học pháp René Laurentin viết: “Giáo hội đã làm nản chí biết bao nhiêu người muốn xây dựng xã hội trần thế, đến nỗi ai còn lý tưởng muốn hăng say phục vụ đều phải chạy xa giáo hội để xây dựng”(12). Nhưng công đồng Vaticano II đã khẳng định dứt khoát một lối sống đạo mới: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay nhất là của những người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của môn đệ Chúa Kitô và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” (số 1).

Bây giờ đạo không ly khai khỏi đời mà gắn bó với đời. Người Công giáo sống đạo giữa đời chứ không chỉ sống trong nhà thờ, với Giáo hội. Người Công giáo cũng ăn uống, sinh hoạt vui chơi, lao động với mọi người nhưng theo tinh thần của Tin mừng. Họ vừa phải chấp hành luật pháp theo bổn phận công dân nhưng còn tuân theo lương tâm đạo dạy nữa. Tại Việt Nam do hoàn cảnh lịch sử nên tinh thần của công đồng Vaticano II du nhập và triển nở ở miền Nam sớm hơn. Các giám mục miền Nam đã nhắc nhở giáo dân: “Không đóng khung đạo lại trong một số sinh hoạt tôn giáo trong nhà thờ hay trong nội bộ Công giáo với nhau nhưng sống đạo, sống tinh thần Phúc âm trong mọi lĩnh vực đời sống”(13).Thư chung 1980 của các Giám mục Việt Nam là văn bản chính thức đầu tiên hướng dẫn người Công giáo cả nước đồng hành cùng dân tộc, cùng chia sẻ vận mạng với đồng bào, gắn bó với quê hương: “ Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào đối với người Công giáo không những là tình cảm tự nhiên phải có mà còn là một đòi hỏi của Phúc âm…Lòng yêu nước của chúng ta phải thiết thực nghĩa là chúng ta phải ý thức những vấn đề hiện tại của quê hương, phải hiểu biết đường lối chính sách của Nhà nước và tích cực cùng đồng bào toàn quốc góp phần bảo vệ và xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, tự do và hạnh phúc” (số 10). Sau 10 năm miền Nam được giải phóng, Đức TGM Nguyễn Văn Bình đã nhận xét: “Từ 10 năm qua, chúng ta đã cố gắng chứng tỏ được rằng người Công giáo là người Việt Nam như tất cả đồng bào khác…Bởi đó chúng ta đã hăng say làm tròn các bổn phận người công dân. Tín ngưỡng của chúng ta, đạo Công giáo của chúng ta không làm cho chúng ta trở thành những người xa rời Tổ quốc mà đạo Kitô còn khuyến khích thêm để chúng ta phấn khởi sống lương thiện, thật thà ngay thẳng quên mình vì lợi ích chung”(14).

Để người Công giáo ngày càng sống đạo gắn bó hơn với quê hương, Giáo hội Công giáo đã không ngừng cổ vũ cho tiến trình hội nhập văn hoá dân tộc. Các Giám mục Á châu mời gọi tín hữu ở châu lục này “Sống đạo theo cung cách Á châu” để đạo không bị coi là xa lạ ngay chính quê hương của Đức Kitô. Theo hướng dẫn này, các Giám mục Việt Nam trong Thư chung 2003 đã kêu gọi người Công giáo Việt Nam “Sống đạo theo cung cách Việt Nam”. Tiếp đó, ngày 27/6/2009, Đức Benedictô XVI còn cổ vũ lối sống “mỗi người Công giáo tốt cũng là những công dân tốt”. Đây là những chỉ dẫn rất quan trọng để người Công giáo Việt Nam sống đạo tốt lành trên quê hương mình.

Nhờ những chỉ dẫn này mà lần đầu tiên người Công giáo Việt Nam đã sám hối xin lỗi đồng bào khi bước vào Năm thánh 2010: “Chúng tôi xin lỗi mọi thành phần xã hội, tôn giáo vì chúng tôi chưa đủ hoà mình và đồng hành. Chúng tôi xin lỗi người nghèo, người hẩm hiu xấu số, người khuyết tật đau khổ vì chúng tôi chưa đủ quan tâm”. Một phong trào thi đua yêu nước của người Công giáo như được thổi một luồng gió mới không chỉ làm thay đổi những định kiến, mặc cảm nơi người Công giáo mà còn làm biến đổi bộ mặt nhiều xứ họ. Xã Quỳnh Thanh (Nghệ An) mỗi năm đầu tư 2,9 tỷ đồng cho xây dựng cơ bản thì dân đóng góp 30% (mà 100% là người Công giáo), các linh mục quê hương góp 26,2%. Trường học, trạm xá đường giao thông, nhà máy nước sạch cũng phần lớn do giới Công giáo địa phương đóng góp. Rất nhiều gương điển hình là người Công giáo đã được xã hội tôn vinh. Chị Trần Thị Mai (Quảng Bình) dũng cảm hy sinh cứu người bị lũ cuốn đã được truy tặng liệt sĩ năm 2006. Anh Nguyễn Công Hùng- nạn nhân chất độc da cam bị liệt từ nhỏ vẫn tự vươn lên thành “Hiệp sĩ công nghệ thông tin”. Các trung tâm Mai Hoà, Thiên Phước trở thành những điểm sáng trong phong trào thi đua “tốt đạo, đẹp đời”.

Rõ ràng lối sống đạo hiện nay của người Công giáo Việt Nam đã vượt qua kiểu giữ đạo hình thức, hướng nội mà vượt lên dấn thân phục vụ xã hội và cộng đồng. Đúng như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi gặp Giáo hoàng Benedicto XVI tại Vatican ngày 25/1/2007 đã nhận định: “Ở Việt Nam, cộng đồng những người Công giáo là một cộng đồng năng động kính Chúa, yêu nước và có những đóng góp tích cực trong việc xây dựng và phát triển đất nước”.

Thư chung hậu Đại hội Dân Chúa năm 2010 viết: “Là công dân trong một đất nước, người Công giáo Việt Nam có bổn phận yêu mến và xây dựng quê hương. Đồng thời, chúng ta thi hành bổn phận này với tinh thần Phúc âm …Theo ý nghĩa đó, Đức Benedicto XVI nhắn nhủ các tín hữu Việt Nam: “Bằng đời sống xây nền trên đức ái, sự liêm chính, việc quý trọng công ích, anh chị em phải chứng tỏ rằng là người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt” (số 33). Với những hướng dẫn này, lối sống đạo của người Công giáo Việt Nam sẽ tiếp tục được nâng lên ở tầm cao mới.

TS Phạm Huy Thông

Chú thích:
1,3,4,5,6- Trương Bá Cần ( chủ biên): Lịch sử phát triển Công giáo ở VN, Nxb Tôn giáo 2008, tr.392; tr.367; tr. 368; tr.700; tr.378.
2- Trần Quốc Vượng : Trong cõi, USA 1991, tr. 284
7, 10- Trần Tam Tỉnh: Thập giá và lưỡi gươm, Nxb Trẻ, tr. 128-129; tr.208
8,11- A. Rhodes: Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, Tủ sách Đại kết 1994, tr.146; tr.90
9- Những vấn đề tôn giáo hiện nay, Nxb KHXH 1994, tr.68
12,13,14- Lm. Nguyễn Hồng Giáo: Một chặng đường giáo hội Việt Nam, Học viện Phan xicô 2008, tr42; tr.146; tr.144

TIN CÙNG CHUYÊN MỤC

CÓ THỂ BẠN THÍCH XEM

VĂN HÓA VIỆT NAM

TIN MỚI NHẤT

Xe bọc thép Atlet

Hiện nay những công đoạn cuối cùng nhằm hoàn thiện dòng xe bọc thép Atlet mới đang được tiến hành, trong tương lai gần Quân đội Nga sẽ được trang bị ồ ạt những siêu “quái thú” này.

Nga sắp có xe bọc thép thế hệ mới

Nhà chế tạo xe bọc thép chở quân lớn nhất của Nga, Công ty Công nghiệp Quân sự (Military-Industrial Company, viết tắt là VPK), hiện đang tiến dần tới việc sản xuất loạt dòng xe “quái thú” thế hệ mới mà họ vừa hoàn thiện.

Tuy nhiên, để chính thức được Bộ Quốc phòng Nga đặt mua và trang bị ồ ạt cho Quân đội Nga thì những chiếc xe bọc thép Atlet của VPK còn phải vượt qua một thử thách cực lớn nữa đó là giai đoạn thử nghiệm cấp nhà nước.

Ông Alexander Krasovitsky – Tổng giám đốc VPK cho biết “Tính tới thời điểm hiện tại, xe bọc thép Atlet đã hoàn tất các giai đoạn thử nghiệm cơ bản và chuẩn bị bước vào giai đoạn thử nghiệm cấp nhà nước. Dự kiến Atlet sẽ bắt đầu thử thách lớn cuối cùng này vào mùa Xuân 2021 và kéo dài tới cuối mùa hè cùng năm”.

Xe bọc thép Atlet thế hệ mới do Nga chế tạo

Tư lệnh Lục quân Nga, tướng Oleg Salyukov cho biết giai đoạn thử nghiệm cấp nhà nước đối với xe bọc thép Atlet sẽ hoàn thiện trong năm 2021.

“Quái thú” vượt trội hơn hẳn “Hổ”

  La Hán, Bồ Tát, Phật là gì?

Xe bọc thép Atlet có cấu hình 2 cầu chủ động (4×4) và được thiết kế để chở quân và hàng hóa quân sự, có khả năng phòng hộ cực tốt, có thể kéo rơ-moóc và làm khung gầm để gắn nhiều loại vũ khí trang bị và các khí tài đặc chủng.

Với cấu hình tiêu chuẩn, những chiếc “quái thú” này được trang bị các ghế ngồi giảm chấn cho tất cả các thành viên của kíp xe và được trang bị điều hòa không khí. Nhờ khả năng kháng mìn tuyệt hảo, xe chịu được sức nổ của mìn có đương lượng nổ tương đương 2kg TNT.

Atlet kế thừa toàn bộ những ưu điểm vượt trội của dòng xe bọc thép Tiger biệt danh là “Hổ” cũng do VPK chế tạo nhưng ở đẳng cấp cao hơn rất nhiều.

So sánh với xe bọc thép Tiger “đàn anh”, Atlet có sức chở lớn hơn, tới 1.600kg so với chỉ 1.200kg của Tiger và khả năng kháng mìn tốt gấp 3 lần, lên tới 2kg TNT so với 0,6kg TNT của Tiger. Khả năng chở quân của 2 dòng xe là tương đương nhau.

Xe bọc thép Atlet thế hệ mới do Nga chế tạo.

Xe được trang bị động cơ YaMZ-5347-24 cho công suất đỉnh 240 mã lực hoặc lựa chọn các động cơ khác có công suất tới 300 mã lực, tất cả đều mạnh mẽ hơn so với các phiên bản động cơ trang bị cho Tiger. Tuy nhiên, trọng lượng của Atlet lại lớn hơn, tới 9,5 tấn, so với khoảng 7,2 tấn của “đàn anh” Tiger.

  Phật


Hồi tháng 8/2020, các xe Atlet đã bước vào giai đoạn thử nghiệm cấp nhà máy và đến nay công tác này đã hoàn tất.

Ông Alexander Krasovitsky – Tổng giám đốc VPK cho biết, những chiếc xe bọc thép Atlet đã thực hành các khoa mục thử nghiệm tại nhiều thao trường thử nghiệm gồm:

– Trung tâm Nghiên cứu và triển khai phương tiện cơ giới (ở Bronnitsy, vùng Moscow),

– Trung tâm Nghiên cứu và triển khai xe bọc thép (ở Kubinka, vùng Moscow),

– Trung tâm thử nghiệm phương tiện cơ giới của Bộ Quốc phòng Nga và Trung tâm thử nghiệm xe cơ giới NAMI (ở quận Dmitrov, vùng Moscow).

Tại các trung tâm thử nghiệm này, xe bọc thép Atlet đã hoàn tất hàng nghìn km trên đủ loại đường khác nhau, từ đường đồng, đường tạm cho tới các loại đường đặc biệt, nó cũng thử nghiệm kéo theo cả một xe thùng (rơ-moóc 2,5 tấn), kiểm tra khả năng vận hành trong điều kiện nhiệt độ cao và thấp cũng như khả năng vượt hào, chướng ngại nước.

Ngoài ra, dòng xe mới này cũng được kiểm tra căn kẽ khả năng chống đạn và kháng mìn.

“Trước khi dòng xe mới được trang bị cho quân đội và các lực lượng, chúng tôi phải đảm bảo chắc chắn rằng nó đủ khả năng bảo vệ hoàn hảo người lính trong điều kiện tác chiến thực tế”, ông Alexander Krasovitsky cho biết.

  Chùa Việt Nam

Hiện tại, nhà chế tạo đang hoàn thiện các mẫu xe bọc thép Atlet gồm phiên bản thiết kế đặc biệt (ASN) và phiên bản xe bọc thép đa dụng 5 cửa (AMN-2).

Chắc chắn trong tương lai gần, có thể là ngay từ năm 2022, nhưng chiếc xe bọc thep Atlet thế hệ mới sẽ bắt đầu được sản xuất loạt và trang bị cho Quân đội Nga.

Không loại trừ khả năng trong thời gian tới chúng ta có thể thấy những con “quái thú” này xuất hiện ở Syria nhằm thử lửa ở chiến trường khốc liệt để chứng minh khả năng vận hành cũng như phòng hộ tuyệt hảo của mình.

Có thể, qua đó, các nhà chế tạo sẽ rút được các kinh nghiệm từ thực tế chiến đấu nhằm hoàn thiện, cải tiến và tối ưu hóa các tính năng của xe.

Trước đó, các xe bọc thép Tiger và BPM-97 đã được Nga tung sang chiến trường Syria, qua thực chiến chúng được đánh giá rất cao và được coi là nỗi kinh hoàng của khủng bố IS và phiến quân đối lập ở quốc gia Trung Đông này.

Cờ vua

1.1. Theo dòng lịch sử

            Trên hành tinh chúng ta có một trò chơi kết hợp trí tuệ và nghệ thuật do con người sáng tạo ra từ ngàn năm nay. Trải qua hàng chục thế kỷ chiêm nghiệm, con người đã liệt nó vào một trong bốn thú chơi thanh tao, nghệ thuật bậc nhất của nhân loại “Cầm Kỳ Thi Họa”. Đó chính là Cờ (Kỳ). Cờ được sánh ngang với âm nhạc, hội họa, văn chương. Như vậy thì quả là không còn gì phải bình phẩm thêm nữa! Từ một thú chơi, cờ dần dà mang tính thể thao thử thách trí thông minh, óc sáng tạo của con người. Thời gian sàng lọc tất cả, chỉ những gì tinh tuý nhất mới được giữ lại. Trên trái đất này đã từng xuất hiện biết bao trò chơi, biết bao môn thể thao, trong số đó có rất nhiều trò chơi xuất hiện rồi mai một, rơi vào dĩ vãng và bị quên lãng. Riêng cờ thì khác hẳn. Đã trải qua hơn 1500 năm kể từ ngày nó ra đời, không những nó không bị mai một đi mà trái lại ngày càng phát triển mạnh mẽ, rộng khắp ở tất cả các châu lục. Ngày nay khi nhân loại ngày càng văn minh thì cũng là lúc cờ ở vào thời kỳ hoàng kim của mình. Dù là cờ Tướng hay cờ Vua (bởi chúng là hai anh em sinh đôi) thì sức sống của chúng ngày càng mãnh liệt.
Một cách tự nhiên, những người chơi cờ, những người yêu thích cờ đến một lúc nào đó cũng sẽ đặt ra câu hỏi:

Cờ có từ bao giờ và lịch sử cả nghìn năm qua của nó ra sao?

Vì sao cờ được con người yêu thích và say mê như vậy?

Từ xưa tới nay ai là những người chơi cờ giỏi nhất?

Cờ có ích lợi gì cho con người?

Cờ ngày nay có khác gì với cờ ngày xưa không? v.v…

***
Để trả lời những câu hỏi trên chúng ta hãy ngược dòng thời gian, cùng làm một chuyến du lịch về quá khứ .

Những dòng mở đầu về lịch sử cờ cũng giống như ở các câu chuyện cổ tích mà chúng ta thường nghe :”Ngày xửa ngày xưa, cách đây lâu lắm rồi…”

Vào khoảng thế kỷ thứ 6, Ấn Độ ,quốc gia rộng lớn của Phương Đông, từng là một trung tâm văn hóa và nghệ thuật thế giới. Ngày nay,sang thăm đất nước này, chúng ta vẫn không khỏi kinh ngạc trước những đền đài hùng vĩ, những nhà thờ lộng lẫy, oai nghiêm, những khu lăng tẩm tráng lệ, những tượng thần tạc bằng đá, bằng đồng…tinh vi, sống động…

Vào thời xa xưa ấy, Ấn Độ cũng là đỉnh cao của toán học, của khoa chiêm tinh. Ấn Độ có nhiều nhà bác học mà thời đó người ta gọi là các nhà thông thái.

Các nhà thông thái của thế giới cổ đại ấy đã sáng tạo một trò chơi gọi là ”Saturanga” tức là trò chơi chiến trận đối kháng có hai bên tham gia. Các quân tượng trưng cho một thế trận gồm đầy đủ chỉ huy và bốn binh chủng quân đội thời bấy giờ. Phía trước là một hàng quân tiến bước, tiếp đến là các chàng kỵ mã và các đội voi chiến (Ấn Độ có rất nhiều voi). Mé ngoài cùng là những chiếc xe di động. Chiễm chệ giữa hàng quân là đức Vua cùng với các cận thần.
Lúc đầu thế trận như vậy được bày trên đất, có cả “sông” và “núi” ngăn cách. Dần dà thế trận rộng lớn được thu nhỏ lại trên một bàn cờ được chia thành các ô và các quân được cách điệu hóa. Từ đó cờ dễ dàng đến với tất cả mọi người, chu du khắp thiên hạ. Các nhà thông thái hết sức thú vị với cách bày trận của mình vì họ cảm thấy chính họ là những thống lĩnh tối cao, chỉ huy toàn bộ ba quân, được dịp phô trương tài nghệ thao lược của mình. Quân của hai bên khôn khéo dàn trận, cố gắng chiếm những vị trí xung yếu, lấn dần trận địa đối phương rồi xáp chiến, khi tấn công mạnh mẽ, khi thoái lui chiến lược, lúc bất thần đánh thẳng vào đại bản doanh quân địch để bắt sống Vua đối phương, và cũng không ít khi bị bên đối phương “cao tay ấn” đánh cho tơi tả, chạy trốn không còn mảnh giáp, lại phải nhẫn nhục, kiên trì gom góp tàn quân, gan góc cố thủ, suy tính cơ mưu để phục hồi lực lượng, phục kích đối phương nhằm chuyển bại thành thắng. Mỗi nhà cầm quân vừa có tài thao lược vừa phải nắm bắt mọi ý đồ, mưu mẹo của đối thủ, phải “đi guốc trong bụng” địch thủ, phán đoán được chiến thuật chiến lược, điểm mạnh điểm yếu của đối phương. Những tình cảm rất tự nhiên của con người như vui buồn, yêu ghét, tức giận, khoan hòa… đều thể hiện qua cuộc cờ. Trái tim người chơi cờ cũng rung động theo những tình cảm đó, tạo nên niềm say mê không bao giờ dứt.

***
Truyền thuyết kể lại rằng sau khi phát minh ra bàn cờ, nhà phát minh được nhà Vua cho phép tự chọn phần thưởng cho mình. Ông bèn tâu lên: “Muôn tâu bệ hạ, bàn cờ của hạ thần có 64 ô vuông, xin bệ hạ cho đặt ở ô thứ nhất một hạt thóc, ô thứ hai gấp đôi ô thứ nhất tức là hai hạt và cứ như thế số thóc của ô sau gấp đôi ô trước”. Nhà vua thấy rằng những hạt thóc nhỏ bé được đặt vào chỉ có 64 ô cờ chắc chẳng đáng là bao bèn đồng ý ngay và giục quần thần đếm thóc thưởng cho ông. Sau một hồi tính toán, quần thần kinh hãi tâu cho vua biết số thóc ấy là con số : 18 446 744 073 709 551 615 hạt

Một con số lớn khủng khiếp mà nếu quy ra thóc thì toàn bộ số thóc có trong vương quốc cộng với toàn bộ số thóc của các nước lân bang cũng không đủ để thưởng cho nhà phát minh.

Như đã nói trên, quân cờ dần dần được cách điệu hóa và luật chơi cũng hình thành rõ ràng. Nói đúng ra thì luật lệ trò chơi ấy lúc bấy giờ còn đơn giản hơn nhiều so với bây giờ. Các nhà khảo cổ đã khai quật và tìm được những quân cờ nguyên dạng thời đó. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ,văn học cũng đã tìm được những văn bia, bản chép tay, tuy ít ỏi song cũng khá đầy đủ để chứng minh được sự ra đời của trò chơi trí tuệ xuất hiện đầu tiên trên đất nước này.

Ví dụ trong quyển trường ca bằng thơ nhan đề ”Vaxavađata” của nhà thơ Xabar, viết bằng tiếng Phạn vào cuối thế kỷ thứ 6 đầu thế kỷ thứ 7, có một đoạn miêu tả , so sánh một cách dí dỏm :”Ôi, mùa mưa đóng vai trò như một ván cờ, mà quân cờ là những con ếch xanh, những con ếch vàng đang nhảy nhót trong khu vườn muôn màu hoa lá”.

Cũng một bài thơ Ấn Độ khác vào cuối thế kỷ thứ 7, ca ngợi lòng yêu hòa bình và nhân từ của nhà vua Xrihasi trị vì thời bấy giờ. Lời thơ mô tả :”Đất nước của đấng anh minh không có sự hiềm khích ngoài sự tranh đua của những bầy ong, người ta không dẫm chân lên nhau ngoài những dòng thơ ca, các đội quân không đánh nhau, ngoài những đội quân trên bàn cờ”.

Các đoàn thuyền trên biển cả, các đoàn lạc đà chở nặng hàng hóa đi về phía Tây. Những người chủ của những chuyến hàng đã học được khá nhiều điều hay và mới lạ ở những quốc gia mình đã đi qua, đem về kể và truyền lại cho đồng bào mình.Trong số những điều mới lạ ấy có cả trò chơi Saturanga kỳ thú.

Tương tự như thế, trò chơi Saturanga theo những con đường thương mại và Phật đạo, vượt qua bao núi cao vực thẳm sang phía Đông để đặt nền tảng cho cờ Tướng ở Trung Hoa và các nươc Đông Nam Á.

Ở Trung Á, trò chơi ngoại nhập này mau chóng được mọi tầng lớp ưa chuộng. Không những các nhà quyền quí, lái buôn giàu sụ cho mình là ”nhà thông thái”, khoe tài ”đánh trận” mà cả vua chúa, quần thần, tướng lĩnh cho đến những người thợ thủ công chân đất trong giờ nhàn rỗi cũng đọ trí, thử tài với nhau. Do nhiều người chơi cho nên luật đặt ra cũng phải thống nhất. Luật chơi cờ được cải tiến dần, số quân mỗi bên được ấn định đúng với chức năng của nó. Ví dụ quân Xe được thay bằng quân Tháp. Bởi vì khi ấy ở Trung Á người ta không hiểu Xe để làm gì, mà bao giờ ở vành ngoài cùng, để bảo vệ một pháo đài hoặc một kinh đô, cũng là những bức tường thành được biểu hiện bằng những chiếc Tháp. (Trong cờ Vua người ta gọi là quân Xe vì nó nước đi giống như nước đi của quân Xe ở cờ Tướng, nhưng tên đúng của nó là Tháp, hoặc là Thành). Còn voi thì ở Trung Á không có nên họ thay quân Tượng bằng quân khác (ở ta gọi là quân Tượng chỉ vì nó có nước đi chéo giống như Tượng trong cờ Tướng) Cũng nói thêm là khi Saturanga sang đến Trung Hoa thì xuất hiện thêm một quân mới là quân Pháo, lúc đấu là loại “pháo” bắn bằng đá nên chữ Pháo có bộ “Thạch” nằm phía trước, sau này khi pháo dùng thuốc nổ thì người ta đổi bộ “thạch” thành bộ “hoả”. Như vậy Saturanga đến những vùng đất mới nó lại có được những cải tiến thích ứng với quan niệm về thể chế và binh nghiệp tại nơi đó.

 Ở Trung Á người ta đã cải tiến một bước, cờ trở nên gọn nhẹ, linh hoạt và có được những luật chơi ban đầu; điều đó cũng giống như người ta tìm ra được công thức tính diện tích hình tròn. Ngày nay, mỗi học sinh phổ thông đều biết tính diện tích hình tròn bằng công thức đơn giản : S =pR2. trong đó R là bán kính hình tròn. Thủa xưa công thức tính diện tích hình tròn dài lê thê, mô tả đến mấy trang, chữ viết dày đặc, đọc vỡ đầu chưa chắc đã hiểu được, bởi vì thời đó người ta chưa có khái niệm về số p (số pi).

Từ lúc nào thì các qui ước về luật chơi cờ Vua được hình thành gần giống với luật cờ hiện đại ? Theo các nhà nghiên cứu về cờ thì đó là vào cuối thế kỷ 15,đầu thế kỷ 16. Ta cũng nên lưu ý rằng cờ cũng thuộc lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, cho nên nó cũng nẩy nở và phát triển trên mảnh đất nào thấm đượm tính nhân văn của một nền văn hóa phát triển cao. Một nhà sử học người Anh đã định nghĩa về cờ Vua như sau: “Đó là cuộc trò chuyện thân thiết không lời, là hoạt động khẩn trương và căng thẳng trong im lặng. Đó là thắng lợi huy hoàng và cũng là những tấn bi kịch. Là sự hy vọng và nản lòng. Đó là khúc trường ca và cũng là một khoa học. Đó là Phương Đông cổ xưa và Châu Âu hiện đại. Tất cả liên kết với nhau thành một thể thống nhất trên 64 ô vuông.”

Ngay từ thời bấy giờ người ta đã quan niệm trò chơi này như một công cụ của lòng nhân đạo và sự văn minh, bởi vì nó làm cho các hiệp sĩ xao lãng việc chém giết, đổ máu ngoài chiến trường.

Do đó, cũng dễ giải thích tại sao khi Italia và Tây Ban Nha được chiếu sáng bằng ánh sáng của nền văn hóa Phục hưng: những tượng đá hoa cương hùng vĩ của Mikenlang Gielo, những tranh tường kỳ diệu và lộng lẫy của Leona de Vinci, những bức họa huyền ảo kiệt xuất của Raphaen hay hình tượng muôn thuở của hiệp sĩ Đông Kisốt với những chiếc cối xay gió bước ra từ những trang sách của Xervantes, thì cờ Vua ở những nơi đó cũng đạt tới đỉnh cao về nghệ thuật. Chính tại châu Âu, những cải cách lớn về cờ đã xuất hiện. Lần đầu tiên trên bàn cờ xuất hiện hình tượng người phụ nữ, đó là quân Hoàng Hậu thay thế cho quân “cố vấn” ở bên cạnh Vua trước đó. Quân Hoàng Hậu được ban cho quyền hành rộng lớn nhờ các nước đi ngang dọc tung hoành trên khắp bàn cờ. Bởi vào thời phục hưng, mỹ thuật và lòng cao thượng ngự trị khắp nơi nên vai trò của các Quý cô, Quý bà rất được tôn vinh. Có những quy tắc cứng nhắc hạn chế sự sáng tạo trên bàn cờ cũng dần được gỡ bỏ mà điển hình nhất là nước nhập thành độc đáo: chỉ bằng một nước đi mà Vua có thể được đưa ngay vào vị trí an toàn còn Xe, một quân mạnh lập tức được đưa ra tham gia vào trận đánh.Các nhà cải cách lớn về cờ Vua ở các nước này thời bấy giờ là Luxen, Damiano, Rui Lopes. Các tên gọi “Ván cờ Italia”, “Ván cờ Tây Ban Nha” xuất hiện. Đó không phải đơn thuần là tên gọi của một ván cờ mà là những công trình nghiên cứu nghiêm túc đầu tiên về lý thuyết cờ, nhất là đối với lý thuyết ra quân, một vấn đề gây tranh cãi khá nhiều trong thời kỳ này. Họ đã đạt được những thành tựu đáng kể.

  Phật

Tiện đây cũng nói thêm, cờ Vua có lịch sử ngót một nghìn năm trăm năm nên tên gọi các thế cờ cũng mang tính lịch sử. Ví dụ khai cuộc Reti, phòng thủ Aliokhin, phòng thủ Uphimsep, phòng thủ Philido, Hệ thống Trigôrin, trận Tarras, Gambit Xtaunton … đó là những kiểu khai cục mang tên các nhà chơi cờ lỗi lạc qua các thời đại. Một số vùng có các trường phái cờ nổi bật một thời, các phương án khai cục cũng mang tên địa danh như: phòng thủ Ấn Độ cổ, ván cờ Italia, ván cờ Tây Ban Nha hệ thống Seveninghen (tên một thành phố ở Hà Lan), Gambit Buđapet (thủ đô Hungari), phòng thủ Slavơ (tên một dân tộc), phòng thủ Xixili (một hòn đảo của Italia), ngoài ra còn có ván cờ Hungari, ván cờ Anh, phòng thủ Pháp, ván cờ Nga, phòng thủ Hà Lan, phòng thủ Xcanđinavơ … mang tên các quốc gia đã có những đóng góp xứng đáng cho sự phát triển môn thể thao này.

Lại có những phương án khai cục khác được gọi bằng chính tên quân cờ: phòng thủ hai Mã, Gambit cánh Hậu, Gambit cánh Vua, khai cuộc Tượng, khai cuộc ba Mã…)

Tuy nhiên,điểm thiếu sót của các nhà lý thuyết lúc bấy giờ là chưa kịp đề cập đến vị trí then chốt của khu trung tâm. Dù trong lý thuyết lúc đó có đề cập đến những nước đi đầu tiên tới khu trung tâm song mục đích chỉ là để mở đường cho Hoàng Hậu và Tượng nhanh chóng công phá vị trí Vua đối phương. Các nhà cải cách này chủ trương sử dụng những đợt tấn công như vũ bão, có thể thí bỏ hẳn một số quân yếu như Tốt chẳng hạn, để tiến công thẳng vào bắt Vua đối phương. Cách đánh dũng mãnh kiểu hiệp sĩ này thời bấy giờ rất được ưa chuộng, thịnh hành và tồn tại đến vài trăm năm. Cho mãi đến thế kỷ thứ 18, khi được phân tích kỹ càng để chỉ ra được những nhược điểm của nó, cách chơi này mới chấm dứt.

1.2. Các huyền thoại cờ vua thế giới

            1.2.1. Bobby Fischer

            Một thời từng được coi là anh hùng dân tộc và được một số người đánh giá là nhân tài cờ vua của mọi thời đại, chàng trai sinh ra ở Chicago này đã có những phản ứng rất khó hiểu với công chúng, bằng những cử chỉ giận dữ, sự hờn dỗi kéo dài hàng thập kỷ, và những ý kiến rất gay gắt.

            Ba năm sau giành danh hiệu vô địch cờ vua thế giới, Fisher đã trao nó cho nhà vô địch cờ vua Liên Xô Anatoly Karpov, khi từ chối thi đấu bảo vệ danh hiệu của mình.

            Chiến thắng của Fischer trước Spassky đã chấm dứt sự thống trị của hệ thống cờ vua dường như bất khả chiến bại của Liên Xô. Từ cuối những năm 1920 đến 1972, Liên Xô luôn nắm giữ danh hiệu vô địch thế giới, ngoại trừ hai năm.

            Phong cách chơi cờ của Fischer thường rất hiếu chiến. Không giống như nhiều kiện tướng khác, ông luôn luôn cố gắng giành chiến thắng trong mỗi ván cờ, thay vì một ván hòa, thậm chí là ngay cả khi ông chơi với quân đen, không có lợi thế đi trước như quân trắng.

            Fischer nổi tiếng với sự tính toán theo lôgic toán học, chứ không đơn thuần dựa vào trực giác.

Fischer trong mắt các đối thủ 

            Nhà vô địch cờ vua của Liên Xô Spassky từng bị Fisher đánh bại hiện đang sống ở Paris. Spassky có ít điều để nói về đối thủ một thời của mình. Khi được hỏi về cảm giác của ông trước tin Fischer qua đời, Spassky nói: “Thật không may cho ông ấy.”

            Còn nhà cựu vô địch cờ vua thế giới Garry Kasparov ca ngợi Fischer là nhà tiên phong của môn cờ vua: “Chúng ta đã mất một con người lớn”, Kasparov phát biểu tại Mátxcơva. “Ông ấy luôn luôn có một mình… nhưng khi một mình ông ấy đã chứng tỏ rằng con người có khả năng đạt được những tầm cao mới”. Ngoài ra Karpov còn gọi Fischer là “một ông lớn trong làng cờ, với một nhân cách đặc biệt”. Tuy nhiên Karpov cho rằng Fischer đã tránh thi đấu với ông: “Tôi không muốn nói là ông ấy sợ, nhưng ông ấy chắc hẳn đã có cảm giác là ông ấy sẽ thua”.

Nhà vô địch cờ vua Viswanathan Anand gọi Fischer là một người lãng mạn: “Ông ấy đã đánh bại được cả một hệ thống”.

            Kiện tướng cờ vua Nga Mark Taimanov, người đã từng thua Fischer năm 1971 cho biết: “Cả cuộc đời ông ấy bị bàn cờ, cờ vua chi phối, và đó có thể là lý do vì sao ông ấy giỏi đến vậy”. Và Taimanov còn phát hiện ra: “Ông ấy qua đời ở tuổi 64, một con số có tính biểu tượng lớn. Bởi 64 cũng là con số tượng trưng cho bàn cờ”.

Sự nghiệp của Fischer

            Năm 13 tuổi Fischer đã trở thành nhà vô địch cờ vua Mỹ ở cấp thấp. Và năm 14 tuổi, Fischer bảo vệ thành công danh hiệu này. Năm 15 tuổi, Fischer trở thành kiện tướng quốc tế, trong cuộc thi đấu quốc tế đầu tiên của mình ở Yugoslavia. Fischer đã từng liên tục đánh bại 21 kiện tướng, điều mà chưa một người Mỹ nào làm được.

            Khi đã trở nên nổi tiếng, Fischer cũng trở nên khó đoán hơn. Anh đã bỏ dở cuộc chơi chỉ vì lý do đèn không được sáng, hay điều hòa không được tốt.

            Giữa những năm 1960, anh không tham gia hai cuộc xếp loại vô địch thế giới, bởi cho rằng ban tổ chức thiên vị người Nga. Năm 1957, khi nhà tổ chức không đáp ứng yêu cầu về điều kiện điều hòa tốt hơn của anh, Fischer đã giận dữ bỏ dở cuộc thi, và dành thời gian “để suy nghĩ”.

            Rồi Fischer mang tất cả sách vở về cờ vua của mình tới California. Tại đây anh cho biết đã “lên kế hoạch trả thù nếu tôi có quay trở lại”. Và khi luật chơi thay đổi vào năm 1972, Fischer vẫn chứng tỏ được rằng ông luôn luôn chơi tốt.

            Những sự kiện khiến nhà vô địch cờ vua người Mỹ dành những năm tháng cuối đời của mình ở thành phố mà ông đã có chiến thắng vào năm 1972 cũng rất kỳ lạ. Cho tới những năm 1990, được biết Fischer sống dưới những cái tên giả trong các khách sạn rẻ tiền ở Pasadena, ngoại ô của Los Angeles, dựa vào số tiền bán sách ít ỏi.

            Sau khi giành chiến thắng trong trận đấu ở Yugoslav, ông kiếm được 3 triệu USD. Ông đã đi khắp nơi trên thế giới, là nhân vật bị Mỹ truy nã. Sau vụ tấn công 11/9, ông đã “tái xuất” trong một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh Philippine.

            Năm 2004, ông bị giam ở Nhật vì dùng hộ chiếu đã bị thu hồi. Trong thời gian 8 tháng trong tù, Mỹ đã tìm mọi cách để dẫn độ ông về nước nhưng không thành. Tháng 3/2005, Iceland đã đồng ý cho ông tị nạn.

            Một người bạn của Fischer cho biết tháng 10 năm ngoái ông đã được đưa tới bệnh viện. Nhưng vì không tin tưởng các bác sỹ, ông đã về nhà và được bạn bè chăm sóc cho đến khi qua đời.

            Einar Einarsson, người đã đấu tranh để đưa Fischer từ Nhật về Iceland cho biết Fischer thích sống ở Iceland, nhưng đôi lúc, ông vẫn cảm thấy tù túng vì không thể đi đâu được.

            Mặc dù từng được coi như vị “anh hùng” của Mỹ trong trận chiến cờ vua với Boris Spassky dưới thời chiến tranh lạnh năm 1972, nhưng ông lại sống những năm tháng cuối đời như một kẻ đào tẩu tại Iceland. , huyền thoại cờ vua đã qua đời vì đau ốm vào giữa ngày thứ năm 17-1-2008 tại Reykjavik, nơi đã diễn ra trận “quyết chiến” của ông với Boris Spassky 36 năm về trước.

            Một nhà bình luận đã từng nói rằng có một hằng số xuyên suốt cuộc đời Fischer, đó là “cuộc chiến chạy trốn đối với cuộc đua của nhân loại”.

            1.2.2. Mikhail Moiseyevich Botvinnik (tiếng Nga: Михаи́л Моисе́евич Ботви́нник) (17 tháng 8 năm 1911 – 5 tháng 5 năm 1995)

            Ông là một đại kiện tướng quốc tế cờ vua người Nga và là kì thủ duy nhất từng 3 lần vô địch thế giới. Ông sinh ở Kuokkala, gần Vyborg, con của một nha sĩ, được biết đến trong giới cờ vua năm 14 tuổi khi đánh bại nhà vô địch Thế giới người Cuba, José Raúl Capablanca, trong một trận đấu biểu diễn đồng thời (một mình đấu với nhiều kì thủ trên nhiều bàn) của Capablanca.

            Botvinnik là nhà kĩ sư chuyên ngành điện, ông học sau đại học tại Leningrad, và thậm chí lấy bằng tiến sĩ (vào khoảng cuối thập niên 1940). Tuy là kì thủ nghiệp dư nhưng ông tự mình đề ra và tuân thủ chế độ luyện tập môn thể thao trí tuệ này.

            Năm 1948, Khi Alekhine mất đột ngột, các kiện tướng hàng đầu thế giới tham gia một trận đấu để chọn ra nhà vô địch thế giới mới tại Moskva. Bovinnik đã thắng giải đấu này (+10=8–2), đứng trên Smyslov, Keres, Reshevsky và Euwe. để trở thành vua cờ thế giới. Ông giữ danh hiệu vô địch một thời gian gần như liên tục suốt 15 năm (1948 – 1963). Mặc dù có hai lần tạm thời mất danh hiệu này vào tay Smyslov (năm 1957) và Mikhail Tal (năm 1960) nhưng ông đều giành lại ngay các năm sau đó, trước khi bị Petrosyan đánh bại vào năm 1963.

            Botvinnik có khả năng đánh giá cục diện thế cờ, cần mẫn trong phân tích các ván đấu tạm hoãn, với kĩ thuật tàn cuộc xuất sắc; và đặc biệt, những thành công của ông đều từ sự chuẩn bị rất kĩ lưỡng. Botvinnik tự mình đặt ra các chế độ sinh hoạt và rèn luyện thể lực rất đều đặn trước những giải đấu lớn.

            Botvinnik là người đã đưa ra một số lý thuyết mới về cờ vua và các phương pháp huấn luyện cờ vua. Ông đã từng là thầy của Karpov và Kasparov.
Ngày 5-5-1995,Vua Cờ Botvinnik đã ra đi mãi mãi vào cõi vĩnh hằng,hướng thọ 84 tuổi.Ông để lại cho hậu thế cả 1 sự nghiệp lẫy lừng,và để lại cho nhân loại cả môn kho tri thức đồ sộ về Cờ Vua,môn thể thao trí tuệ mà ông luôn yêu thích và gắn cả cuộc đời mình với nó

            1.2.3. Emanuel Lasker 

            Lasker có dáng người tầm thước, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, thưởng có nụ cưới châm biếm trên môi. Trong con người ông kết hợp được một cách hài hoa đặc tính của một nhà khoa học thông minh, lanh lợi với phong cách tươi mát của một nghệ sĩ. Tính cách của ông hấp dẫn mọi người. Đã có nhiều sách viết về ông, song lại không phải viết về những công thức toán học hay tâm lý học mà là viết về sự nghiệp thứ hai của ông chói lọi hơn nhiều – Cờ Vua , sự nghiệp của cả một đời, mà nổi bật nhất là trong 27 năm liền giữ chức vô địch thế giới, điều mà các nhà vô địch từ cổ chí kim chưa ai làm nổi.

  Thiên Chúa giáo

Năm 1894, trận đấu tranh chức vô địch thế giới đầu tiên, Steinitz đã 56 tuổi . Với một phong cách đánh dứt khoát và sắc bén ở tuổi đang sung sức, Lasker đã hạ Steinitz với tỉ số 10-5 đoạt dễ dàng vòng hoa chiến thắng và trở thành nhà vô địch thứ hai thế giới của cờ Vua. Với một tài nghệ phi thường cùng với một sức khỏa dẻo dai, những năm sau đó, cứ mỗi năm lại một lần ông lại đem danh hiệu của mình ra, thách đố với đấu thủ cờ nào kiệt xuất nhất và liên tục giành thắng lợi như chẻ tre.

            Lasker có những quan niệm độc đáo về cờ. Có lần người ta hỏi Rubeinstein (một danh thủ lẫy lừng cùng thời với Lasker): “ Hôm nay ông chơi với ai?” ông trả lời : “Hôm nay tôi chơi quân Trắng chống quân Đen, còn chuyện chơi với ai chả có ý nghĩa gì hết!” . Ngược lại Lasker có một quan điểm khác: “Trong ván cờ, không phải các quân cờ chống chọi nhau, mà là những người đấu trí với nhau” . Trước mỗi trận đấu ông tìm hiểu kỹ càng đối thủ của mình. Ông tâm sự : “Ván cờ là một cuộc đấu có sự tham gia của nhiều yếu tố khác nhau nhất. Bởi vậy hiểu biết những mặt mạnh , mặt yếu của đối thủ là hết sức quan trọng… Biết bao điều bổ ích bạn có thể rút ra được khi họ nghiên cứu đối thủ và các ván cờ của họ”.

            Lasker không ưa cách học vẹt các thế biến khai cuộc . Ông nói: “Biêt cách chơi cờ không phải là công việc của trí nhớ đơn giản. Việc ghi nhớ các thế biến không phải là trọng yếu nhất. Trí nhớ là thứ vũ khí quý báu, không nên phung phí cho những điều vụn vặt. Phải nắm vững phương pháp chơi”.

            Các ván cờ của Lasker thiên biến vạn hóa, không theo một quy luật cứng nhắc nào. Ông đã viết nhiều sách bàn về giai đoạn cờ tàn. Ông đã để lại cho các bạn chơi cờ những lời khuyên chân thành: “Tôi muốn đào tạo các học trò biết cách phê phán các tài liệu. Trong môn cờ, tôi không muốn tặng cho họ các khái niệm trừu tượng hay những luận điểm chung mà là những kiến thức thật sự sinh động. Họ hãy thử thách mình bằng những trậu đấu” .

            Tên tuổi Lasker thật sự chói ngời. Nó gắn liền với cờ Vua trong hàng loạt tên gọi và các phương án khai cuộc, thậm chí cả đòn chiến thuật. Lasker là một tấm gương sáng cho biết bao kỳ thủ trẻ noi theo trên đường đi đến sự nghiệp vinh quang của họ .

            1.2.4. Alekhine – mãi là nhà vô địch

            Đã là trẻ con thì không thể không có đồ chơi. Cậu bé Alekhine cũng lôi các thứ đồ chơi rồi bày ra đủ trò. Song chơi mỗi trò chỉ được ít lâu là cậu thấy chán. Duy chỉ có bàn cờ với 64 ô đen trắng và 32 quân là làm cho cậu chơi mãi vẫn thấy thú vị. Quân đi thiên biến vạn hóa mới thấy hấp dẫn làm sao! Cậu ngồi hàng giờ suy nghĩ tìm ra nước cờ hay rồi tự mỉm cười hài lòng với chính mình. Ở cậu bé trầm tư này, đó có lẽ là trò chơi duy nhất mà cậu thấy thích hợp với mình. Tối đến khi mẹ về, cậu vẫn cứ ngồi lầm lũi ngồi bày các thế cờ để giải, làm bà mẹ cũng tò mò, không khỏi ngạc nhiên.

            Đến 15 tuổi thì Alekhine đã tham gia nhiều cuộc thi đấu quốc tế lớn. Chàng thiếu niên ngồi chơi đàng hoàng với các bậc đàn anh, thậm chí với các bậc chú bác của mình, gây nên sự chú ý to lớn. Đến năm 21 tuổi thì những đấu thủ sừng sỏ lần lượt công nhận tài năng rõ rệt của chàng trai người Nga này. Chàng chỉ còn đứng sau hai người khổng lồ là Lasker và Capablanca.

Alekhine thường nói: “Đấu cờ , trước hết là đặc tính của con người. Mỗi địch thủ đếu có ý chí, có tính toán và mang đầy đủ các đặc tính cá nhân của họ. Chính cờ tạo ra tính cách của con người. Qua sai lần và thất bại, bạn sẽ trở thành một đại kiện tướng xứng đáng. Đối với tôi điều đó hoàn toàn đúng” .

            Đỉnh cao tài năng của Alekhin là trận đấu với Capablanca ở Buenos Aires ngày 16 tháng 9 năm 1927.

            Ngay từ ván đầu tiên, hai bên đã cho công chúng thấy rõ tài nghệ của mình. Capablanca chơi với lòng tự tin vào bản lĩnh của mình còn Alekhine đáp lại bằng quyết tâm chiến thắng cao độ. Chẳng mấy chốc thế trận mỗi lúc một thêm ngoạn mục. Bất thần bằng một nước đi được tính toán chính xác tuyệt đối, Alekhine bắt được một quân và từ đó lợi thế nghiêng về phía ông. Tận dụng lợi thế, bằng những nước tiếp theo không hề lầm lẫn, ông đã kết thúc thắng lợi mở màn ở nước đi thứ 44 .

            Với tài năng xuất chúng của minh, Capablanca đã cân bằng tỷ số 1-1. Alekhin đã đánh bại “huyền thoại về chơi cờ tàn” của Capablanca và nâng tỷ số lên 3-1. Tiếp sau đó là những ván hòa liên tục. Kết thúc ván thứ 68 thì tỷ số là 4-2 nghiêng về phía Alekhine. Ván 29 được các chuyên gia coi là ván lịch sử. Alekhine chỉ cần hòa là nắm chắc òng nguyệt quế . Nhưng thắng lợi ở ván thứ 29 của Capablanca không chỉ làm cho tỷ số 4-3 mà còn đặt Alêkhin vào một thử thách khó khăn về tâm lý.

            Trong ván cuối cùng, ván thứ 34 , đã bộc lộ tài năng tuyệt vời của Alekhine, ông đã chiến thắng khi cờ tàn còn Xe và Chốt. Ván cờ này nhiều năm sau và cho đến nay vẫn được đưa vào các sách giáo khoa làm một ví dụ mẫu mực về cờ tàn.

            Alekhine có một trí nhớ tuyệt vời, ông có thể nhớ không sai tất cả các ván cờ hay của các tay cờ cự phách trong vòng 60-70 năm. Là người chơi cờ “mù” rất giỏi (bịt mắt và tưởng tượng) , Alekhine có thể chơi cùng lúc 32 ván cờ với 32 người khác nhau và thắng tới 30 ván còn lại 2 ván hòa ! Ông kể lại rằng : “Hồi bé, tôi có thói xấu là hay chơi cờ trong giờ học. Một lần bị thầy giáo phát hiện, phạt và thu bàn c ờ, chúng tôi buộc phải đánh tiếp bằng tưởng tượng. Từ đấy , tôi thấy đánh “ mù” ít nguy hiểm hơn (!) và có lợi khi tính toàn trong thi đấu. Kể chuyện này tôi không có ý khuyên các bạn nên làm điều xấu. Song nếu thuộc bàn cờ thì rất có lợi”.

Song cũng không nên cho rằng Alekhine không có sở thích gì ngoài đánh cờ. Ông là người biết thông thạo nhiều ngoại ngữ, đọc nhiều sách văn học, đồng thời lại là người sành âm nhạc và am hiểu hội họa. Ngoài cờ, ông ham thích bơi lội, chơi quần vợt và đua xe đạp.

            Đêm 25 tháng 3 năm 1946 ông mất đột ngột tại Paris. Cái chết bí hiểm của ông được giải thích do bệnh tim. Tấm ảnh cuối cùng còn chụp được khi ông chết cho thấy ông đang ngồi dựa trong chiếc ghế bành, bên cạnh là những quyển sách và phía trước ông, trong rất rõ là một bàn cờ có đủ 32 quân. Ông ngồi đó, mắt nhắm lại như đang suy nghĩ, có lẽ ông đang nghĩ về một thế cờ ở tàn cuộc hay một biến khai cuộc hoàn toàn mới?

            Alekhine đã trở thành bất tử trong lịch sử cờ Vua. Ông là nhà vô địch duy nhất không bị hạ bệ. Khi vẫn còn đang khoác vòng nguyệt quế vinh quang, ông đã ra đi vĩnh viễn trong niềm thương tiếc của bao người. Alekhine, tên ông được gắn liền với nhiều ván cờ được coi là giáo khoa mẫu mực. Tên ông được lập đi lập lại trong biết bao thế cờ xuất sắc tuyệt diệu, có cả khai cuộc mang tên Alekhine. Các tài liệu cờ , các sách giào khoa đều nhắc đến ông.

            Alekhine là thần tượng của hàng triệu đấu thủ trẻ. “Huyền thoại Alekhine” vẫn mãi làm mọi người rung động và mến phục.

            Liên đoàn Cờ Việt Nam (tiền thân là hội Cờ Tướng Việt Nam) được thành lập ngày 14/02/1965 tại Nhà khai trí kiến thức (nay là Trung tâm phương pháp Câu lạc bộ – 14 Lê Thái – Tổ Hà Nội) do bác sĩ Lê Đình Thám là Chủ tịch Uỷ ban hoà bình Việt Nam, Uỷ viên Uỷ ban hoà bình thế giới làm Hội trưởng. Trong hoàn cảnh chiến tranh chống đế quốc Mỹ, Hội Cờ tướng Việt Nam đã tổ chức được 3 giải vô địch toàn miền Bắc và mời đoàn Cờ Tướng Trung Quốc sang thi đấu hữu nghị. Sau này, vì không đủ điều kiện nên chỉ tổ chức được những giải nhỏ ở Hà Nội. Năm 1975, Hội Cờ gần như không còn hoạt động, duy nhất chỉ còn ông Lê Uy Vệ, còn những người khác, người thì chuyển công tác, người thì nghỉ hưu nên đã giải thể. Tháng 8 năm 1976, Việt Nam nhận được thư mời tham dự cuộc thi đấu Cờ Vua tổ chức tại thành phố Tôvipôli (thủ đô Libi) do Liên đoàn Cờ của các nước Ả Rập tổ chức và Libi là nước đăng cai. Ở Việt Nam thời gian này, Cờ Vua chưa phát triển, chỉ có một số người chơi ở một vài thành phố. Với sự ghi nhận về tương lai phát triển môn Cờ Vua ở Việt Nam, Tổng cục TDTT đã cử một đoàn đến tham dự với tư cách là quan sát viên. Đại hội lần này có 44 nước tham gia với đủ các thành phần lứa tuổi nam, nữ, có VĐV nữ 13 – 14 tuổi, có vị là nghị sỹ quốc hội ở tuổi 60.

Năm 1978 Tổng cục TDTT đã ra chỉ thị số 73/CT để hướng dẫn phong trào Cờ Vua rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân, nhất là đối với thanh thiếu niên, học sinh.

Ngày 05/08/1980 Bộ Giáo dục đã ra văn bản số 1787/TDQS về việc chính thức đưa Cờ Vua vào giảng dạy trong các trường phổ thông, các trường Cao đẳng, Đại học sư phạm và trường Đại học TDTT trên phạm vi toàn quốc.

Ngày 15/12/1980, Hội Cờ được thành lập lại, lấy tên là Hội Cờ Việt Nam do ông Hồ Trúc, Thứ trưởng Bộ Giáo dục làm Hội trưởng. Trước bối cảnh mới, Hội đã mạnh dạn đưa môn Cờ Vua vào Việt Nam và thực tế đã chứng minh cho quyết định sáng suốt đó: Cờ Vua Việt Nam bước đầu đã phát triển sâu, rộng ở mọi đối tượng trong xã hội.

Nước ta có nhiều môn thể đang được phát triển, giờ đây lại được bổ sung thêm một môn thể thao mới thì hoạt động TDTT càng thêm phong phú, đa dạng. Cờ Vua góp phần đáng kể vào các sinh hoạt văn hóa lành mạnh của quần chúng nhân dân và góp phần xây dựng con người mới Xã hội chủ nghĩa.

Tháng 10/1984, Hội Cờ Việt Nam chính thức là thành viên của Liên đoàn Cờ châu Á và năm 1988, Việt Nam được chính thức công nhận là thành viên của Liên đoàn Cờ Vua thế giới (FIDE). Cuối năm 1991, Hội Cờ tổ chức Đại hội toàn quốc lần II và đổi tên thành Liên đoàn Cờ Việt Nam do ông Nguyễn Hữu Thọ, Tổng biên tập báo Nhân Dân làm Chủ tịch. Cũng từ Đại hội này, môn Cờ Tướng được đưa vào thi đấu. Như vậy, quá trình tồn tại và phát triển của Liên đoàn Cờ Việt Nam đã có một bề dày thời gian và lịch sử hào hùng, tuy bước hội nhập của môn Cờ vào làng Cờ khu vực và thế giới còn ngắn ngủi (Cờ Vua năm 1988, Cờ Tướng năm 1993), nhưng Liên đoàn Cờ Việt Nam đã đóng góp cho làng Cờ khu vực và thế giới 18 Kiện tướng FIDE, Kiện tướng quốc tế, và 2 Đại kiện tướng…

  Phật Thích-ca Mâu-ni

Hiện tại, Liên đoàn mới đưa thêm môn Cờ Vây vào Việt Nam, và đã tổ chức được một lớp HLV cho các địa phương. Bộ môn mới mẻ này bước đầu đã có những tín hiệu đáng mừng, đặc biệt ở hai thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Với những bối cảnh như vậy, Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Liên đoàn Cờ Việt Nam đã được tổ chức vào ngày 28/09/1997 và ông Nguyễn Minh Hiển – Uỷ viên Trung ương Đảng – Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo được bầu làm Chủ tịch Liên đoàn Cờ Việt Nam. Đại hội đã tổng kết và đề ra phương hướng hoạt động đổi mới nhằm đẩy mạnh sự phát triển môn Cờ Vua, Cờ Tướng nước ta trong giai đoạn mới.

Sau 5 năm phát triển (1990 – 1995), đã có 20 ngành, địa phương xây dựng được phong trào ở môn thể thao này. Khi đó, có một số địa phương đã đưa môn Cờ Vua vào chương trình hoạt động của các trường và tổ chức đào tạo VĐV Cờ Vua ở một số trường năng khiếu TDTT cơ sở. Từ đó, Hội Cờ Việt Nam (sau này là Liên đoàn Cờ Việt Nam), tổ chức đều đặn giải vô địch toàn quốc hàng năm cho thanh thiếu niên, học sinh và người lớn. Năm 1980, tại giải vô địch toàn quốc được tổ chức ở Hà Nội đã áp dụng luật thi đấu của FIDE và ở các tỉnh, thành đều có tổ chức thi đấu xếp hạng để tuyển chọn VĐV, đặc biệt là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức thi đấu cho nữ thanh niên. Những năm gần đây, phong trào Cờ Vua phát triển rất mạnh mẽ trên phạm vi toàn quốc. Nhiều nơi phong trào đã biểu hiện chiều sâu với hàng loạt trung tâm Cờ Vua được thành lập và tổ chức hoạt động như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Thanh Hóa, Đồng Tháp…

Hàng năm, giải Cờ Vua cho các đối tượng được tổ chức rộng rãi. Đỉnh cao về qui mô phong trào là các giải Cờ Vua A1, A2, giải các đấu thủ mạnh, cũng như giải Cờ Vua cho học sinh, sinh viên được tổ chức định kỳ và đặc biệt giải Cờ Vua trong khuôn khổ Hội khỏe phù đổng II (1992), Hội khỏe phù đổng III (1996), mỗi giải đều có trên 500 VĐV nam nữ tham gia. Ngoài các giải trong nước, đội tuyển Cờ Vua quốc gia với các lứa tuổi đã được hình thành thông qua các giải toàn quốc. Các đội tuyển đó thường xuyên tham dự các giải thi đấu quốc tế và đã gặt hái được không ít những thành công: Đạt 4 huy chương vàng lứa tuổi từ 12 đến dưới 20 và được FIDE phong cấp Đại kiện tướng thế giới cho 2 VĐV, cùng với gần 20 VĐV khác đạt danh hiệu Kiện tướng thế giới, Kiện tướng FIDE. Gần đây nhất tại các giải vô địch Cờ Vua châu Á, giải trẻ thế giới, các VĐV Việt Nam một lần nữa lại chứng tỏ được khả năng và trình độ của mình trong môn thể thao này.

Cờ vua là gì? Hướng dẫn cách chơi cờ vua cơ bản

Bên cạnh cờ vây, cờ tướng… cờ vua là một môn thể thao trí tuệ được rất nhiều người trên thế giới yêu thích. Trò chơi có tác dụng thư giãn nhẹ nhàng, tăng khả năng tư duy và phù hợp với mọi lứa tuổi.

Cờ vua là gì?

Cờ vua là một trò chơi giữa hai kỳ thủ sử dụng trí tuệ của mình kết hợp với chiến thuật hợp lý để đạt được mục đích cuối cùng là ăn quân Vua của đối phương. Bên cạnh đó, bạn cũng phải tìm cách bảo vệ quân Vua của mình không bị bắt. Để thực hiện được mục tiêu này, người chơi cần bắt càng nhiều quân đối phương càng tốt hoặc ngăn đối phương ăn quân của bên mình.

Mỗi quân cờ vua có phải đi theo đúng phương thức mà trò chơi đã quy định kèm theo vô vàn luật lệ mà những người mới chơi không thể thấy trước hay hiểu được lúc bắt đầu. Cho nên, các bạn hãy thật kiên nhẫn bởi càng chơi bạn sẽ nhận ra điểm thú vị đặc biệt của bộ môn này đó.

Giới thiệu về bàn cờ vua và quân cờ

Bàn cờ vua

Bàn cờ vua có hình vuông chia ra thành 64 ô vuông nhỏ gồm 32 ô trắng và 32 ô đen sắp xếp xen kẽ nhau. Các ô ngang được đánh dấu bằng chữ cái từ A đến H, ô dọc đánh dấu bằng số từ 1 đến 8.

Quân cờ

Các quân cờ có màu đen và màu trắng tương ứng với quân hai bên của người chơi. Mỗi quân cơ sẽ có cách phân biệt bằng tên và hình dáng với hướng di chuyển riêng. Cụ thể như sau:

  • Tốt: Mỗi bên sẽ có 8 quân tốt và đây là quân cờ cơ bản nhất trong cờ vua. Trong lần di chuyển đầu tiên, Tốt được quyền di chuyên lên phía trước 1 hoặc 2 ô. Nhưng những nước đi sau đó chỉ được tiến lên 1 ô. Quân này chỉ được tấn công các quân khác nếu nằm chéo về phía trước 1 ô và không thể đi lùi.
  • Xe: Xe trông giống như một tòa tháp trong lâu đài và mỗi bên có 2 quân Xe. Quân này được phép di chuyển ngang hoặc dọc với điều kiện không có quân cờ khác cản được đi tới vị trí mong muốn. Xe có thể tấn công và ăn quân khác nằm trên đường đi của nó.
  • Mã: Chúng ta không khó để nhận biết quân Mã bởi nó có biểu tượng hình con ngựa. Nước đi của quân Mã khá phức tạp. Mã đi theo hình chữ “L” tạo từ 2 ô ngang và 1 ô dọc hoặc 2 ô dọc và 1 ô ngang di chuyển theo mọi hướng tùy thích. Đặc biệt, Mã là quân cờ duy nhất có thể nhảy qua những quân khác. Nó chỉ có thể tấn công các quân khác nằm trong ô mà nó nhảy tới.
  • Tượng: Tượng có hình như chiếc mũ của giám mục Thiên Chúa Giáo. Ưu điểm của tượng chính là di chuyển theo đường chéo bao nhiêu ô tùy thích chỉ cần không bị quân cơ khác cản.
  • Hậu: Có thể nói, Hậu là quân cờ quyền lực nhất trên bàn cờ, thường có hình vương miện nữ tính hơn quân Vua. Quân Hậu có thể di chuyển ngang, dọc và chéo tùy ý và có thể tấn công theo mọi hướng.
  • Vua: Vua chỉ có thể di chuyển mỗi ô một nước theo mọi hướng và cách tấn công cũng tương tự như vậy. Đây cũng là quân cờ mà bằng mọi giá bạn phải bảo vệ, không thể để mất. Nếu mất quân cờ này đồng nghĩa với việc bạn sẽ thua cuộc.

Cách sắp xếp bàn cờ vua

Sau khi đã nhận biết và làm quen với các quân cờ, bạn hãy sắp xếp chúng vào bàn cờ để có thể bắt đầu ván đấu. Đặt bàn cờ sao cho ô cuối cùng ở mỗi bên có màu trắng. Cách sắp xếp quân cờ như sau:

  • Đặt tất cả quân Tốt vào hàng thứ 2 ở trước mặt tạo nên một “bức tường” ngăn cách giữa các quân cờ khác của bên bạn và đối thủ.
  • Xếp quân Xe vào góc bàn cờ ở bên bạn.
  • Đặt mỗi quân Mã bên cạnh một quân Xe và quân Tượng nằm bên cạnh quân Mã.
  • Đặt quân Hậu vào 1 trong 2 ô còn lại ở hàng thứ nhất tùy vào màu của quân đó. Với quân Hậu đen thì đặt nó vào ô đen và quân Hậu trắng vào ô trắng.
  • Cuối cùng, bạn hãy đặt quân Vua vào ô còn lại. Sau đó, kiểm tra lại bố cục của các quân cờ bên đối phương có giống như vậy không. Hai quân Hậu và Vua ở hai bên phải đối diện nhau.

Luật chơi cờ vua cơ bản

  • Sau khi sắp xếp bàn cờ xong, hai kỳ thủ sẽ tiến hành di chuyển luân phiên các quân cờ theo hướng đi đã quy định ở phía trên khi đến lượt đánh của mình.
  • Mục tiêu cuối cùng của hai bên người chơi đó là ăn quân Vua của đối phương. Nước đi khiến quân Vua phải né, chạy trốn được gọi là “chiếu tướng”. Bên nào chặn được hết đường chạy của Vua thì sẽ thắng.
  • Trong trường hợp hai bên không còn thêm nước đi nào thì sẽ xử hòa.
  • Khi bạn di chuyển quân cờ tới ô khác mà ô đó đang có quân cờ ở phía đối thủ đứng thì người chơi có quyền ăn quân đó.

Trên đây là những thông tin cơ bản nhất về bộ môn cờ vua mà chúng tôi muốn gửi tới các bạn. Trong từng tình huống cụ thể, bạn phải linh hoạt nước đi của mình để ứng phó lại chiến thuật của đối phương, đồng thời phát triển các nước cờ của mình.

10 nguyên tắc trong khai cuộc cờ vua

Phát triển quân là nguyên tắc quan trọng nhất trong khai cuộc cờ vua, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề khác kỳ thủ cần dè chừng.

Ba nguyên tắc đầu tiên đều nhấn mạnh vào một điểm, đó là phát triển quân, theo video từ Chess.com. Bởi lời khuyên quan trọng bậc nhất trong cờ vua là tận dụng hết sức mạnh của các quân cờ.

Các nguyên tắc còn lại là đừng đi một quân hai lần trong khai cuộc, nhập thành sớm, đừng đưa hậu ra trận sớm, nghĩ tới mối đe dọa của đối phương, phát triển quân với một mục đích rõ ràng và liên kết hai xe.

Người mới học chơi cờ cần chú ý đến các nguyên tắc này, hiểu được mục đích của các khai cuộc. Còn những cao thủ sẽ ghi nhớ nhiều khai cuộc để ứng phó với đối phương, và giảm thời gian tính toán trong những nước đầu tiên. Theo Oxford Companion, có 1.327 khai cuộc đã được đặt tên và các biến thể của nó.

Nhưng không phải lúc nào cũng tuân thủ các nguyên tắc. Yếu tố tiên quyết là phân tích mối nguy hiểm từ nước đi mà đối thủ tạo ra. Nếu đối thủ mắc sai lầm, chúng ta có thể phá bỏ quy tắc để trừng phạt họ.

Đòn phối hợp nào mạnh nhất trong cờ vua?

Nước chiếu đôi được coi là chiến thuật mạnh nhất trong cờ vua, khi nó buộc vua đối thủ phải di chuyển.

Chiến thuật và chiến lược cờ vua
Video trên từ Chess.com nêu những chiến thuật và chiến lược cơ bản cho người chơi cờ sau khi học các nước đi. Chiến thuật chiếm 90% giá trị trong cờ vua, nhưng chiến lược lại là bàn đạp để phát hiện ra các đòn phối hợp.

Phổ biến nhất là đòn bắt đôi, tức là di chuyển một quân để cùng lúc tấn công ít nhất hai quân của đối thủ. Tuy nhiên, đòn này chỉ hiệu quả khi đối phương không bắt lại được quân ta.

Tiếp theo là đòn ghim. Sự lợi hại của đòn này là khi ta tấn công, quân đối thủ không thể hoặc không nên di chuyển vì sẽ mất quân quan trọng hơn. Ngược lại là đòn xiên. Đó là khi ta tấn công một quân giá trị, buộc đối thủ phải di chuyển để sau đó ta bắt quân khác.

Tuy nhiên, mạnh nhất vẫn là đòn chiếu đôi. Khi đó, hai quân ta cùng lúc chiếu vua đối phương. Không còn cách nào khác, đối phương phải chạy khỏi vị trí bị chiếu vì không thể cùng lúc che chắn cả hai đường chiếu hoặc tiêu diệt cả hai quân đang chiếu.

Súng trường tấn công AK-19 của Nga

Kalashnikov hy vọng AK-19 sẽ tạo được dấu ấn trên thị trường súng trường tấn công toàn cầu ở các nước đang phát triển nhằm lấn át các nhà sản xuất súng phương Tây.

Theo thông báo, Công ty sản xuất súng Kalashnikov trực thuộc Tập đoàn Nhà nước Rostec của Nga sẽ giới thiệu loại súng trường tấn công AK-19 5,56 mm mới nhất của mình tại triển lãm vũ khí lớn nhất Trung Đông – IDEX 2021.

Kalashnikov cho biết, dòng súng trường tấn công mới nhất của họ đã thu hút được sự quan tâm lớn của các khách hàng ở Trung Đông, những nước vẫn sử dụng loại đạn tiêu chuẩn 5,56 × 45 mm.

“Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm và nhiều bụi, AK-19 sẽ phát huy được hiệu quả sử dụng mọi thời điểm, bay ngày hay ban đêm, hoạt động đáng tin cậy và nhận được quy trình bảo trì chu đáo,” thông báo của Kalashnikov cho hay.

Dmitry Tarasov, Tổng giám đốc của Kalashnikov nói rằng công ty hy vọng biến thể mới của họ sẽ đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu.

“AK-19 sử dụng loại đạn 5,56 × 45 mm đã được NATO chấp thuận và sử dụng rộng rãi trên thế giới. Vì vậy, dòng súng trường tấn công mới nhất của chúng tôi được thiết kế để hướng đến thị trường nước ngoài”.

“Giới thiệu AK-19 tại triển lãm vũ khí quốc tế lớn nhất IDEX 2021, chúng tôi chắc chắn sẽ nhận được sự quan tâm lớn từ phía các khách hàng nước ngoài”.

  Phật Thích-ca Mâu-ni

Hãy quên AK-47 đi, súng trường tấn công AK-19 của Nga mới là “đẳng cấp”! – Ảnh 1.
AK-19 là một biến thể mới của AK-12, đã có mặt trong Lực lượng vũ trang Nga từ năm 2019.

Là biến thể súng trường tấn công hạng nhẹ được thiết kế dựa trên mẫu AK-12, chính thức biên chế cho các lực lượng vũ trang Nga kể từ năm 2019, AK-19 có báng súng gọn nhẹ với công thái học được cải tiến, trang bị một ống ngắm phía sau mới và một bộ hãm thanh tiên tiến, chiều dài nòng 415 mm và trọng lượng 3.350 gram.

Súng trường tấn công AK-19 sử dụng báng gấp trọng lượng nhẹ, thước ngắm cơ khí kiểu mới và loa che lửa có thể gắn nòng giảm thanh. AK-19 có dáng dấp hiện đại giống với các mẫu súng trường tấn công hàng đầu của phương Tây.

Mẫu súng AK-19 mới sở hữu tính năng tương tự như AK-12 với tầm bắn 440 m và ba chế độ bắn, gồm bắn phát một, bắn loạt hai viên và bắn liên thanh.

AK là dòng súng trường tấn công phổ biến hàng đầu thế giới, với khoảng 200 triệu khẩu đang được sử dụng. AK-47, phiên bản đầu tiên do tổng công trình sư Mikhail Kalashnikov thiết kế, đã được Hồng quân Liên Xô sử dụng từ năm 1949-1974.

Cho tới nay, Nga vẫn chưa mấy thành công với các phiên bản AK hậu Liên Xô vì vậy với việc cho ra mắt mẫu AK-19 mới, Nga hy vọng chúng sẽ tiếp tục viết tiếp những trang sử hào hùng của dòng AK huyền thoại.

  Phật

Kalashnikov hy vọng AK-19 sẽ tạo được dấu ấn trên thị trường súng trường tấn công toàn cầu ở các nước đang phát triển nhằm lấn át các nhà sản xuất súng phương Tây.

Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi nhà sản xuất súng của Nga quyết định chọn IDEX, triển lãm quốc phòng hàng đầu ở Trung Đông để quảng bá cho sản phẩm cải tiến mới nhất của mình ra thị trường toàn cầu.

Chè shan tuyết cổ

Dù giá bán cao ngất ngưởng, loại chè này vẫn được nhiều người tìm kiếm, gần Tết mặt hàng này còn “cháy”, khách muốn mua đều phải đặt trước.

Loại chè đặc sản này được lấy từ cây chè shan tuyết cổ, có tuổi đời khoảng vài trăm năm. Theo chị Việt Hà – một nhân viên của cơ sở sản xuất chè Shan tuyết cố, cây chè này một năm thường ra búp vào 4 vụ nhưng chỉ có 2 vụ chính nhiều trà vào đầu năm. Cơ sở sản xuất chè Shan tuyết của chị sẽ thu mua tất cả các tháng trong năm nhưng chỉ bán vào dịp cuối năm.

“Vì số lượng chè Shan tuyết chưa đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước nên tôi chỉ bán để làm quà tặng, biếu vào dịp Tết. Dù vậy, loại chè này chưa năm nào có đủ để bán cho khách, mọi người chủ yếu đều phải đặt trước và ký kết hợp đồng mới có hàng”, chị cho hay.

Người dân phải trèo lên cây cao để hái chè.

Người dân thu hái rồi bán lại cho các cơ sở sản xuất chè.

Riêng năm nay, cơ sở sản xuất chè của chị Hà đã chuẩn bị khoảng 20 tấn phục vụ khách hàng trong dịp Tết này. Và công ty của chị cũng nhận được rất nhiều đơn đặt hàng từ các công ty, doanh nghiệp, cá nhân đặt làm quà tặng Tết cho đối tác, gia đình, nhân viên…

  La Hán, Bồ Tát, Phật là gì?

Theo đó, chè Shan tuyết cổ có nhiều phân khúc giá phục vụ khách hàng từ uống phổ thông hàng ngày, làm nguyên liệu pha chế đến sản phẩm cao cấp dành làm quà biếu tặng phục vụ cho nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Giá thấp nhất khoảng hơn 700.000 đồng/kg, cao nhất là trà sen giá khoảng 25 triệu đồng/kg. Và giá của các loại trà này đều giữ vững, không biến động nhiều qua nhiều năm.

Với mong muốn làm ra chè chất lượng nhất, cơ sở sản xuất chè của chị Hà thu mua tất cả lượng chè tươi của 2 vùng Tà Xùa (Sơn La) và Suối Giàng (Yên Bái). Vì hai vùng này sẽ làm ra chè có vị ngon nhất. Theo đó, người dân ở 2 vùng này đều được hướng dẫn cách thu hái để 100% sản lượng đạt tiêu chuẩn chế biến trà cao cấp. Ngoài ra, cơ sở sản xuất chè của chị còn hỗ trợ người dân mở rộng diện tích trồng chè Shan tuyết để có thể đáp ứng nhu cầu thị trường trong tương lai.

Chè Shan tuyết có cách làm riêng để giữ nguyên được hương vị đặc trưng của nó.

Trên thị trường, chè Shan tuyết có đủ 4 dòng của thế giới trà: Trà xanh, hồng trà, bạch trà và Trà ép bánh, với mỗi một dòng sẽ có quy trình chế biến khác nhau. Trong đó, trà ép thành bánh đòi hỏi kỹ thuật cao nhất và không phải ai cũng làm được.

  Nhiên Đăng Cổ Phật

Chị Hà cho biết trà shan tuyết cổ thụ tự nhiên có nội chất rất mạnh nên có thể pha được từ 10 đến 20 lần nước tùy theo dòng trà và dòng sản phẩm. Khi pha trà cần lưu ý không ngâm trà lâu quá 30 giây trong nước thì sẽ lấy được hương vị nội chất tinh tuý của trà.

Chè được ép thành bánh để bán cho khách hàng.

Dù giá chè cao, mặt hàng này vẫn không đủ cung cấp vào dịp Tết.

Theo tìm hiểu, đây là loại chè đặc sản Việt Nam có búp to màu trắng xám, dưới lá chè có phủ một lớp lông tơ mịn, trắng nên người dân gọi là chè tuyết. Chè Shan tuyết có mùi thơm dịu, nước vàng sánh màu mật ong. Chè được chế biến theo phương pháp thủ công của người dân tộc Tày, Mông, Dao.

Để hái chè, người dân phải trèo lên những cây chè cao, có độ tuổi lên đến vài trăm năm. Thông thường, cây chè này được canh tác hoàn toàn tự nhiên, không sử dụng bất cứhóa chất hay phân bón gì nên được xem là chè sạch. Và chúng có nhiều ở các tỉnh Hà Giang, Bắc Kạn, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái

Nhưng chè có vị ngon nhất ở Tà Xùa (Sơn La) hay Suối Giàng (Yên Bái). Nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng hàm lượng chất chống ung thư trong trà Shan Việt cao gấp 11 lần trà xanh tốt nhất của Nhật Bản.

  Phật Di-lặc (Chuyển luân thánh vương)

Tục xông đất

Người Việt tin rằng người xông đất có ảnh hưởng đến vận hạn cả năm của gia chủ, vì vậy từ tháng Chạp nhiều người đã chọn người xông đất Tết Tân Sửu 2021.

 Việc chọn người xông đất phù hợp với gia đình trong dịp đầu năm rất được coi trọng. Tùy theo từng năm, cần chọn người có tuổi, mệnh hợp với năm đó, và tương sinh với tuổi của mình, nghĩa là phải có thiên can, ngũ hành, địa chi tương hợp.

Bên cạnh đó, cần tránh đi các tuổi phạm vào tứ hành xung, được cho là sẽ đem lại điều không may cho gia chủ nếu xông đất đầu năm.

Tuổi xông đất năm Tân Sửu phù hợp nhất

Tuổi phù hợp nhất để xông đất Tết Tân Sửu 2021 gồm Quý Tỵ (1953), Đinh Dậu (1957), Nhâm Tý (1972), Đinh Tỵ (1977), Quý Dậu (1993), Bính Tý (1996).

Ngoài những tuổi xông đất rất tốt đó, có một số tuổi cũng có thể xông nhà, mở hàng tương đối tốt cho năm Tân Sửu là Bính Thân (1956), Canh Tý (1960), Nhâm Dần (1962), Quý Mão (1963), Ất Tỵ (1965), Bính Ngọ (1966), Kỷ Dậu (1969), Tân dậu (1981), Quý Hợi (1983), Giáp Tý (1984), Bính Dần (1986), Đinh Mão (1987), Kỷ Tỵ (1989), Nhâm Thân (1992).

Mọi gia đình đều có thể chọn một trong những tuổi này để xông đất Tết Tân Sửu, giúp cho năm mới suôn sẻ, “đầu xuôi đuôi lọt”.

Tuổi xông đất năm Tân Sửu phù hợp nhất là Quý Tỵ (1953), Đinh Dậu (1957), Nhâm Tý (1972), Đinh Tỵ (1977), Quý Dậu (1993), Bính Tý (1996).

Tuổi xông đất năm Tân Sửu 2021 theo mệnh là:

  • Chủ nhà mệnh Kim nên chọn người xông đất mệnh Thổ hoặc Kim.
  • Chủ nhà mệnh Mộc nên chọn người xông đất mệnh Thủy, Mộc.
  • Chủ nhà mệnh Thủy nên chọn người xông đất mệnh Kim là tốt nhất.
  • Chủ nhà mệnh Hỏa nên chọn người xông đất mệnh Mộc hoặc Hỏa.
  • Chủ nhà mệnh Thổ nên chọn nên chọn người xông đất mệnh Thổ, Hoả.
  Phật Thích-ca Mâu-ni

Dựa vào thiên can tương hợp, địa chi thuộc vào tam hợp (Dần – Ngọ và Tuất, Hợi – Mão và Mùi, Thân – Tý và Thìn, Tỵ – Dậu và Sửu), nhị hợp, lục hợp (Sửu và Tý, Dần và Hợi, Ngọ và Mùi, Mão và Tuất, Tỵ và Thân, Thìn và Dậu), bạn có thể lựa chọn người xông đất 2021 phù hợp.

Tránh chọn tuổi xông đất năm Tân Sửu thuộc tứ hành xung với chủ nhà. Cũng không nên chọn người xông có thiên can và địa chi xung phá đối với thiên can địa chi của năm, người có tang hoặc làm ăn thua lỗ, dù tuổi của họ phù hợp xông đất Tết Tân Sửu.

Ý nghĩa của tục xông đất đầu năm

Theo truyền thống, sau giao thừa, người nào bước vào nhà đầu tiên cùng với lời chúc mừng năm mới chính là người xông đất. Tục xông đất đã có từ rất lâu, xuất phát từ mong muốn về một năm mới an lành, thịnh vượng, tránh đi những xui xẻo trong năm cũ.

Ông bà ta tin rằng, người xông đất sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến vận hạn của gia chủ trong một năm. Nếu được người nào xởi lởi, hợp vía đến xông đất thì cả năm đó sẽ được tốt lành. Gặp người không hợp vía, hợp vận sẽ khiến cả năm khó khăn, không may mắn.

Người xông đất phải là người tốt vía, tính tình vui vẻ, khỏe mạnh, sự nghiệp thành công.

Tất nhiên đây chỉ là quan niệm dân gian. Ngày nay, trải qua bao thế hệ, người Việt vẫn giữ tục xông đất nhưng không còn khắt khe như xưa. Nhiều gia đình vẫn chú ý mời người hợp tuổi nhưng không còn quá đặt nặng chuyện hậu vận may rủi mà chỉ coi đây như một văn hóa ngày Tết, là niềm vui nho nhỏ mỗi dịp xuân về.

  La Hán, Bồ Tát, Phật là gì?

Nhiều gia đình không xem tuổi mà chỉ đơn giản là mời người họ yêu mến, tính tình vui vẻ, xởi lởi, toát ra năng lượng tích cực, gia đạo êm ấm… đến xông đất nhà mình. Một số gia đình thì để “tùy duyên”, ai đến xông đất cũng được đón tiếp vui vẻ.

Trên một phương diện nào đó, tục xông đất cũng mang ý nghĩa giúp con người thân thiết, gắn bó hơn và mang đến cho nhau những lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất.

Chọn người xông đất cho cơ quan, công ty

Ngày mở đầu công ty theo năm tuổi

Theo các chuyên gia phong thủy, ngày tốt nhất để khai trương, mở cửa hàng, công ty trong tháng 2 năm 2021 (tức tháng Giêng năm Tân Sửu Âm lịch) gồm các ngày:

  • 13/2 (2/1/2021 Âm lịch)
  • 19/2 (8/1/2021 Âm lịch)
  • 21/2 (10/1/2021 Âm lịch)
  • 23/2 (12/1/2021 Âm lịch)

Ngoài ra, nếu chủ doanh nghiệp cẩn thận hơn thì có thể chọn ngày lành mở hàng, mở công ty đầu năm theo tuổi, cụ thể bạn có thể tham khảo trong bảng dưới đây:

Tuổi Ngày đẹp theo Âm lịch Ngày đẹp theo Dương lịch
  • 2/1/2021 – Nhâm Thìn
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 13/2/2021
  • 19/2/2021
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Sửu
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Dần
  • 2/1/2021 – Nhâm Thìn
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 13/2/2021
  • 19/2/2021
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Mão
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 19/2/2021
  • 23/2/2021
Thìn
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Tỵ
  • 2/1/2021 – Nhâm Thìn
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 13/2/2021
  • 19/2/2021
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Ngọ
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 19/2/2021
  • 23/2/2021
Mùi
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Thân
  • 2/1/2021 – Nhâm Thìn
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 13/2/2021
  • 19/2/2021
  • 21/2/2021
Dậu
  • 2/1/2021 – Nhâm Thìn
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 13/2/2021
  • 23/2/2021
Tuất
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 19/2/2021
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
Hợi
  • 2/1/2021 – Nhâm Thìn
  • 8/1/2021 – Mậu Tuất
  • 10/1/2021 – Canh Tý
  • 12/1/2021 – Nhâm Dần
  • 13/2/2021
  • 19/2/2021
  • 21/2/2021
  • 23/2/2021
  Nhiên Đăng Cổ Phật

Người xông đất hợp với mệnh của lãnh đạo

Xét theo mệnh thì chọn người xông đất công ty phải có Ngũ hành tương sinh hoặc tương hợp với mệnh của lãnh đạo.

  • Lãnh đạo mệnh Kim: cùng mệnh hoặc mệnh Thổ, mệnh Thủy, tránh mệnh Mộc, mệnh Hỏa.
  • Lãnh đạo mệnh Mộc: cùng mệnh hoặc mệnh Thủy, mệnh Hỏa, tránh mệnh Kim, mệnh Thổ.
  • Lãnh đạo mệnh Thủy: cùng mệnh hoặc mệnh Kim, mệnh Mộc, tránh mệnh Thổ, mệnh Hỏa.
  • Lãnh đạo mệnh Hỏa: cùng mệnh hoặc mệnh Mộc, mệnh Thổ, tránh mệnh Thủy, mệnh Kim.
  • Lãnh đạo mệnh Thổ: cùng mệnh hoặc mệnh Kim, mệnh Hỏa, tránh mệnh Thủy, mệnh Mộc.

 

Người xông đất hợp với tuổi của lãnh đạo

Sau khi đã chọn tuổi xông đất theo Ngũ hành, chúng ta tiếp tục xét theo Thiên can để tìm ra người hợp tuổi nhất với lãnh đạo.

  • Lãnh đạo tuổi Tý: tuổi Thân, Thìn (Tam hợp), tuổi Sửu (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Sửu: tuổi Tỵ, Dậu (Tam hợp), Tý (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Dần: tuổi Ngọ, Tuất (Tam hợp), Hợi (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Mão: tuổi Mùi, Hợi (Tam hợp), Tuất (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Thìn: tuổi Tý, Thân (Tam hợp), Dậu (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Tỵ: tuổi Sửu, Dậu (Tam hợp), Thân (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Ngọ: tuổi Dần, Tuất (Tam hợp), Mùi (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Mùi: tuổi Mão, Hợi (Tam hợp), Ngọ (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Thân: tuổi Tý, Thìn (Tam hợp), Tỵ (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Dậu: tuổi Sửu, Tỵ (Tam hợp), Thìn (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Tuất: tuổi Dần, Ngọ (Tam hợp), Mão (Nhị hợp).
  • Lãnh đạo tuổi Hợi: tuổi Mão, Mùi (Tam hợp), Dần (Nhị hợp).

* Thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo.

https://coccoc.com/search?query=tu%E1%BB%95i%20x%C3%B4ng%20%C4%91%E1%BA%A5t&shared=1&share=horoscope